vanban.org

Bản án 172/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Tuyên án 12/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán T a án nh n d n Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo;

Tuyên bố bị cáo Lê Đăng H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Lê Đăng H 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày T a tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đăng H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán T a án nh n d n Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 172/2020/HS-ST
Ngày: 12-8-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Nhật Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Thượng Văn Kịnh.

Bà Nguyễn Thị Mỹ Dung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành ph Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở T a án nh n d n thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 190/2020/TLST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 199/2020/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:

Lê Đăng H, sinh năm 1994, tại Đồng Nai; nơi cư trú: Thôn Q, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông; nghề nghiệp: không; trình độ h c vấn: 10/12; d n tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đăng C và bà Nguyễn Thị H; có vợ là Huỳnh Thị D và 01 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị bắt tạm giữ ngày 06/5/2020 đến ngày 15/5/2020 được thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giữ bằng biện pháp bảo lĩnh và tại ngoại đến nay; có mặt.

Bị hại: Bà Lê Thị Mỹ L, sinh năm 1977; địa chỉ: Ấp N, xã Đ, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; tạm trú: Số 447, khu phố 8, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Ông Phan Thành H, sinh năm 1998; địa chỉ: Ấp 12, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.

- Bà Hồ Thị Kim H, sinh năm 1992; địa chỉ: Ấp K, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên t a, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

- Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 05/5/2020, Lê Đăng H điều khiển xe mô tô biển số 71B3 - 612.XX đi từ phường Lái Thiêu, thành phố Thuận An đến phường Phú Mỹ, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương để rước bạn. Khoảng 16 giờ cùng ngày, khi đi ngang qua chợ Bình Điềm thuộc khu 8, phường Phú H a, thành phố Thủ Dầu Một, H nhìn thấy trong hộc bên trái phía trước xe mô tô biển số 83D2 - 962.XX của bà Lê Thị Mỹ L đang dựng trước sạp trái c y của bà Đỗ Thị Hoàng M có 01 điện thoại di động hiệu OPPO F9, màu tím không có người trông coi nên H nảy sinh ý định lấy chiếm đoạt. H dựng xe trước sạp trái c y và đi đến xe của bà L dùng tay phải lấy điện thoại di động cất giấu vào túi quần rồi điều khiển xe đi. Khoảng 18 giờ cùng ngày, H đem điện thoại đến tiệm Hoàng – Châu tại số 24, đường Phan Đình PH, khu phố Chợ, phường Lái Thiêu, thành phố Thuận An gặp ông Phan Thành Hoàng bán được số tiền 1.200.000 đồng. H tiêu xài hết số tiền trên.

Khoảng 17 giờ ngày 06/5/2020, H điều khiển xe mô tô đi ngang chợ Bình Điềm thì bị người d n phát hiện, bắt giữ và giao cho cơ quan công an. Quá trình làm việc, cơ quan công an tiến hành thu giữ 01 xe mô tô hiệu Honda Vision, màu trắng, biển số 71B3 - 612.XX, số khung 5815GY8312XX, số máy JF66E05728XX; 01 áo khoác màu trắng có một tay áo màu xanh và một tay áo màu đỏ; 01 điện thoại di động hiệu OPPO F9 màu tím.

Ngày 07/5/2020, Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thủ Dầu Một có Bản kết luận định giá số 86/KLTS-TTHS, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu OPPO F9 màu tím trị giá 2.800.000 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên t a, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo H đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến gì về hành vi phạm tội của bị cáo.

- Về các vấn đề khác của vụ án:

Đối với điện thoại di động hiệu OPPO F9 màu tím, quá trình điều tra xác định đ y là tài sản của bị hại Lê Thị Mỹ L nên Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Thủ Dầu Một giao trả lại cho bà L theo Quyết định xử lý vật chứng số 74 ngày 15/5/2020 và bà L không yêu cầu gì khác.

Đối với ông Phan Thành Hoàng, khi mua điện thoại di động của H, ông Hoàng không biết điện thoại trên là tài sản do H phạm tội mà có và ông Hoàng không yêu cầu H bồi thường số tiền trên.

Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Vision màu trắng, biển số 71B3 - 612.XX (số khung 5815GY8312XX, số máy JF66E05728XX) do bà Hồ Thị Kim H đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe. Bà H cho H mượn xe để làm phương tiện đi lại. Việc H sử dụng xe làm phương tiện phạm tội bà H không biết. Ngày 26/5/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Thủ Dầu Một giao trả xe mô tô nói trên cho bà H.

Đối với áo khoác màu trắng có một tay áo màu xanh và một tay áo màu đỏ của Lê Đăng H không liên quan đến việc phạm tội Viện kiểm sát nh n d n thành phố Thủ Dầu Một ra quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án d n sự thành phố Thủ Dầu Một để đề nghị T a án trả cho H.

- Về trích dẫn cáo trạng của Viện kiểm sát:

Bản cáo trạng số 206/CT-VKS-HS ngày 15/7/2020 của Viện Kiểm sát nh n d n thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Đăng H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên t a, kiểm sát viên trong phần tranh luận đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Đăng H mức hình phạt từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 12 tháng đến 18 tháng.

Về trách nhiệm d n sự: Không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về biện pháp tư pháp: Đối với 01 áo khoác màu trắng, có một tay áo màu xanh và một tay áo màu đỏ không liên quan đến việc phạm tội nên đề nghị trả lại cho bị cáo.

Quá trình điều tra và tại phiên t a, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Quá trình điều tra, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nh n d n thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên t a, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra và tại phiên t a, bị cáo Lê Đăng H đã khai nhận: Khoảng 16 giờ ngày 05/5/2020, tại khu vực sạp trái c y số 233/4, khu 8, phường Phú H a, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, bị cáo H có hành vi lén lút chiếm đoạt của bà Lê Thị Mỹ L 01 điện thoại di động hiệu OPPO F9 màu tím, trị giá 2.800.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt, bị cáo H bán điện thoại cho ông Phan Thành Hoàng được 1.200.000 đồng và tiêu xài hết số tiền trên. Bị cáo H có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nh n d n thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Về nhận thức, bị cáo biết việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo không những x m phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công d n được pháp luật bảo vệ mà c n g y mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xử bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục và ph ng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm tr ng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản đã thu hồi trả cho bị hại theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét bị cáo có nh n th n tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú r ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng nên việc không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì không g y ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh ph ng, chống tội phạm. Hội đồng xét xử s áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ–HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán T a án nh n d n tối cao Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, cho bị cáo hưởng án treo là đã đủ răn đe, giáo dục bị cáo.

Xét mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm d n sự: Tài sản thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Đối với hành vi của ông Phan Thành Hoàng khi mua điện thoại của bị cáo H, ông Hoàng không biết đ y là tài sản do H phạm tội mà có đồng thời ông Hoàng cũng không yêu cầu bị cáo H bồi thường số tiền 1.200.000 đồng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về vật chứng của vụ án:

+ Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Vision màu trắng, biển số 71B3 - 612.78 do bà Hồ Thị Kim Hồng đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe. Bà Hồng cho H mượn xe để làm phương tiện đi lại. Việc H lấy xe làm phương tiện phạm tội bà Hồng không biết nên ngày 26/5/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Thủ Dầu Một giao trả xe mô tô nói trên cho bà Hồng là đúng quy định pháp luật.

+ Đối với 01 áo khoác màu trắng (một tay áo màu xanh và một tay áo màu đỏ) của bị cáo Lê Đăng H không c n giá trị sử dụng và bị cáo không nhận lại nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các l trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136, Điều 260 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán T a án nh n d n Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T a án.

1. Tuyên bố bị cáo Lê Đăng H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lê Đăng H 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày T a tuyên án.

Giao bị cáo Lê Đăng H cho Ủy ban nh n d n xã Đạo Nghĩa, huyện Đăk R’Lấp, tỉnh Đăk Nông giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Lê Đăng H cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì T a án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

2. Về trách nhiệm d n sự: Không đặt ra xem xét, giải quyết.

3. Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cái áo khoác màu trắng (có một tay áo màu xanh và một tay áo màu đỏ) của bị cáo Lê Đăng H.

(Thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng số 169.20 ngày 09/7/2020 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một và Công an thành phố Thủ Dầu Một).

4. Về án phí: Bị cáo Lê Đăng H phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày T a tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ