vanban.org

Bản án 172/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 25/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Như Q phạm tội "Môi giới mại dâm".

Xử phạt bị cáo Nguyễn Như Q 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Được trừ thời gian tạm giữ 09 (chín) ngày từ 12/6/2020 đến 20/6/2020. Buộc bị cáo Nguyễn Như Q nộp số tiền thu lời bất chính 250.000đ (hai trăm năm mươi ngàn đồng) để sung quỹ nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Q môi gới mại dâm - phạm tội môi giới mại dâm (điều 328 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Như Q phạm tội "Môi giới mại dâm".
  • Căn cứ chính? Điều 328 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 172/2020/HS-ST
Ngày 25 – 9 – 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thu.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Sĩ Hùng;

Bà Trương Ánh Hoa

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đình Chưởng – Là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Hồ Thanh Sang - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 188/2020/TLST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 778/2020/HSST-QĐ ngày 11 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Như Q, sinh năm 1983, giới tính: Nữ; Nơi sinh: Cà Mau; Nơi cư trú: Ấp T, xã H, thành phố C, tỉnh Cà Mau; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Mua bán. Con ông Nguyễn Văn X và bà Nguyễn Ngọc T; Chồng: Nguyễn Nhựt T, sinh năm 1986 (Đã ly hôn); Con: 01 người sinh năm 2009. Tiền án, tiền sự: không. Bị tạm giữ từ ngày 12/6/2020 đến ngày 20/6/2020, tại Nhà tạm giữ công an thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/6/2020 đến nay, tại xã H, thành phố C. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Trương Thị B, sinh năm 1989, địa chỉ: Khóm 7, phường 7, thành phố C, tỉnh Cà Mau. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bi cáo Nguyễn Như Q có mối quan hệ quen biết với Nguyễn Thị M, sinh năm 1980, Nguyễn T.M, sinh năm 1980 và người phụ nữ tên N (không rõ lai lịch). Lợi dụng việc bị cáo Q bán quán cà phê nên M, T.M và N thỏa thuận với bị cáo Q nếu khách đến quán cà phê của bị cáo Q uống cà phê có nhu cầu mua dâm thì bị cáo Q giới thiệu M, T.M, N để bán dâm, sẽ trả tiền công cho bị cáo Q. Giá thỏa thuận cho một lần bán dâm từ 400.000đ đến 500.000đ. Mỗi lần bán dâm giá 500.000đ thì gái bán dâm trả cho bị cáo Q 100.000đ, nếu giá một lần bán dưới 500.000đ thì trả cho bị cáo Q 50.000đ. Bị cáo Q giới thiệu gái bán dâm cho khách có nhu cầu mua dâm thông qua hình ảnh của M, T.M, N được bị cáo lưu giữ trong điện thoại di động hiệu OPPO của bị cáo. Khách mua dâm đồng ý thì bị cáo điện thoại cho gái bán dâm để chọn địa điểm, sau đó gái bán dâm gọi điện thoại thông báo cho bị cáo biết địa điểm bán dâm để bị cáo báo lại cho khách mua dâm đến địa điểm thông báo. Địa điểm bán dâm thường là tại nhà nghỉ H.N thuộc ấp T, xã H, thành phố C và các nhà nghỉ Q.Đ, A.K thuộc khóm B, phường B, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

Vào khoảng 14 giờ ngày 11/6/2020, tại quán cà phê của bị cáo, anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1970 cùng với anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1981, có nhu cầu mua dâm nên anh H yêu cầu bị cáo tìm cho H hai gái bán dâm thì bị cáo đồng ý. Bị cáo dùng số điện thoại 0941.598.168 của bị cáo gọi vào số điện thoại 0919.570.576 của M thông báo có hai khách mua dâm và kêu M gọi cho T.M cùng đi bán dâm thì M đồng ý. Sau đó, M dùng số điện thoại của M gọi vào số điện thoại 0943.431.752 của T.M thông báo cho T.M đi bán dâm thì T.M đồng ý, và hẹn T.M đến nhà trọ H.N để bán dâm cho H và T. Sau khi Muội thuê phòng số 04, T.M thuê phòng số 09 của nhà trọ H.N, M gọi điện báo cho bị cáo để bị cáo thông báo cho H và T biết địa điểm mua bán dâm. Sau đó, H và T đến nhà trọ H.N gặp M và T.M để thực hiện hành vi mua bán dâm và thỏa thuận giá 500.000 đồng cho một lần mua bán dâm, H vào phòng số 04 mua dâm với M, T vào phòng số 09 mua dâm với T.M, T trả tiền mua dâm cho T.M 500.000 đồng, còn H thì chưa trả tiền mua dâm cho M, trong lúc H và M, T và T.M đang thực hiện hành vi mua bán dâm thì bị lực lượng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Cà Mau kết hợp với Công an xã Hòa Thành kiểm tra bắt quả tang và thu giữ các tang vật gồm:

- Thu giữ tại phòng số 09: 01 bao cao su hiệu VIP màu vàng đã qua sử dụng và Tiền Việt Nam 500.000 đồng;

- Thu giữ tại phòng số 04: 01 bao cao su hiệu AOXINNI màu vàng đã qua sử dụng;

- Thu giữ 01 giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 61A8007292; 01 giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự số 31; 01 sổ quản lý kinh doanh dịch vụ lưu trú;

Sau khi bắt quả tang Công an tỉnh Cà Mau tiến hành mời bị cáo Nguyễn Như Q làm việc và thu giữ của bị cáo các đồ vật gồm: 01 điện thoại hiệu PHILIPS màu đen, dạng bàn phím có gắn sim số 0941.598.168 và 01 điện thoại hiệu OPPO màu vàng cảm ứng, có ốp lưng màu hồng, đen.

Ngoài lần bắt quả tang, quá trình điều tra còn chứng minh được bị cáo Q đã môi giới cho Nguyễn Thị M, Nguyễn T.M và người phụ nữ tên N đi bán dâm cho khách các lần, cụ thể như sau:

- Lần thứ 1: Cách ngày bị bắt quả tang khoảng 20 ngày (không nhớ ngày) Q môi giới cho M bán dâm cho một người khách lạ (không rõ lại lịch) tại phòng số 03 nhà trọ H.N, giá bán dâm là 400.000đ, M trả cho bị cáo tiền công môi giới 50.000đ.

- Lần thứ 2: Cách ngày bị bắt quả tang khoảng 10 ngày (không nhớ ngày) Q môi giới cho M đi bán dâm cho một người khách lạ (không rõ lai lịch) tại phòng số 02 nhà trọ Q.Đ thuộc khóm B, phường B, thành phố C, giá bán dâm 500.000 đồng, M trả cho bị cáo tiền công môi giới 100.000đ.

- Lần thứ 3: Cách ngày bị bắt quả tang khoảng 05 ngày (không nhớ ngày) bị cáo Q môi giới cho M đi bán dâm cho một khách lạ (không rõ lai lịch) tại phòng số 02 nhà nghỉ A.K thuộc khóm B, phường B, thành phố C, giá bán dâm là 400.000 đồng, M trả cho bị cáo bị cáo tiền công môi giới 50.000đ.

- Lần thứ 4: Vào ngày 06/6/2020, Nguyễn Văn H đến quán cà phê của bị cáo Q và yêu cầu bị cáo Q giới thiệu gái bán dâm để Hùng mua dâm thì bị cáo Q đồng ý. Bị cáo Q gọi điện cho N đến nhà trọ H.N bán dâm cho H, giá bán dâm do Hvà N thỏa thuận. Khi bán dâm xong N không trả tiền công môi giới cho bị cáo, nên lần này bị cáo Q không có hưởng lợi.

- Lần Thứ 5: Cách ngày bị bắt quả tang khoảng 02 tháng (không nhớ ngày) bị cáo Q môi giới cho Mơ đi bán dâm cho một người khách lạ (không rõ lai lịch) tại nhà trọ H.N, giá bán dâm 400.000đ, T.M trả cho bị cáo Q tiền công môi giới 50.000đ.

Như vậy, tổng cộng bị cáo Nguyễn Như Q môi giới cho Nguyễn Thị M, Nguyễn T.M và người phụ nữ tên N đi bán dâm cho khách 06 lần, thu lợi bất chính số tiền là 250.000 đồng.

Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Như Q thành khẩn khai báo thừa nhận toàn bộ hành vi.

Tài liệu, đồ vật thu giữ trong vụ án gồm:

- 01 giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 61A8007292; 01 giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự số 31 và 01 sổ quản lý kinh doanh dịch vụ lưu trú đã xử lý xong;

- 01 bao cao su hiệu VIP màu vàng đã qua sử dụng; 01 bao cao su hiệu AOXINNI màu vàng đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu PHILIPS màu đen, gắn sim số 0941.598.168; 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu vàng, ốp lưng màu hồng đen và tiền Việt Nam 500.000đ. Đang được bảo quản chờ xử lý.

Tại Cáo trạng số: 181/CT-VKS ngày 09/9/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau đã truy tố bị cáo Nguyễn Như Q về tội "Môi giới mại dâm" theo điểm d, đ khoản 2 Điều 328 của Bộ luật Hình sự 2015.

Tại phiên toà:

- Kiểm sát viên giữ nguyên bản cáo trạng : Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Như Q về tội "Môi giới mại dâm" theo điểm d, đ khoản 2 Điều 328 của Bộ luật Hình sự 2015. Áp dụng tình tiết giảm nhẹ: điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 106 của Bộ Luật tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy 01 bao cao su hiệu VIP màu vàng đã qua sử dụng; 01 bao cao su hiệu AOXINNI màu vàng đã qua sử dụng và thẻ sim số 0941.598.168; trả lại cho chị B 01 điện thoại di động hiệu PHILIPS màu đen; tịch thu phát mãi 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu vàng, ốp lưng màu hồng đen. Sung quỹ tiền Việt Nam 500.000đ. Buộc bị cáo truy thu số tiền thu lợi bất chính 250.000đ.

- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình điều tra, truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã có hành vi, quyết định tố tụng đúng pháp luật.

Chị Trương Thị B là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng nhưng chị B vắng mặt không rõ lý do. Xét thấy sự vắng mặt của chị B không gây trở ngại cho việc xét xử giải quyết vụ án, bị cáo và Đại diện Viện kiểm sát không yêu cầu hoãn phiên tòa nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị B đúng theo khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Như Q hoàn toàn thừa nhận vào ngày 11/6/2020 tại quán cà phê của bị cáo thuộc ấp T, xã H, thành phố C bị cáo đã thực hiện hành vi làm trung gian môi giới cho hai cặp nam nữ để mua bán dâm, Nguyễn Thị M bán dâm cho Nguyễn Văn H, Nguyễn T.M bán dâm cho Nguyễn Văn T thì bị bắt quả tang. Quá trình điều tra, đã chứng minh được ngoài lần bắt quả tang, khoảng thời gian từ tháng 5/2020 đến trước ngày bắt quả tang ngày 11/6/2020, tại quán cà phê của bị cáo thuộc ấp T, xã H, thành phố C, bị cáo Q đã làm trung gian môi giới cho Nguyễn Thị M, Nguyễn T.M và người phụ nữ tên N (không rõ lai lịch) đi bán dâm cho Nguyễn Văn H và một số khách mua dâm khác (không rõ lai lịch) 05 lần, thu lợi bất chính số tiền 250.000 đồng.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi tội phạm với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội "môi giới mại dâm" theo quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 328 của Bộ luật Hình sự, đúng như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau đã truy tố.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã góp phần gây mất trật tự an ninh xã hội, góp phần lây lan bệnh xã hội nguy hiểm ảnh hưởng đến sức khỏe, danh dự, thuần phong mỹ tục của người Việt Nam, cần áp dụng mức hình phạt thật nghiêm tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo gây ra. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Gia đình bị cáo khó khăn, bản thân bị cáo đang phải nuôi mẹ của bị cáo và con nhỏ nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Đồi với chủ nhà nghỉ H.N, Q.Đ và A.K có sai phạm để hoạt động mua bán dâm diễn ra, giao cơ quan Công an tiếp tục xử lý theo quy định.

Đối với Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T, Nguyễn T.M và Nguyễn Thị M có hành vi mua bán dâm, M và T.M đã trên 18 tuổi. Bộ luật hình sự 2015 không quy định là tội phạm đối với hành vi mua bán dâm nên không xem xét trách nhiệm, hình sự là phù hợp.

Về tang vật: Các tang vật đã được Cơ quan điều tra Công an thành phố Cà Mau tỉnh Cà Mau xử lý trả lại là phù hợp. Tang vật còn lại gồm: 01 bao cao su hiệu VIP màu vàng đã qua sử dụng và 01 bao cao su hiệu AOXINNI màu vàng đã qua sử dụng khi mua bán dâm có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, không còn giá trị sử dụng tịch thu tiêu hủy. 01 điện thoại di động hiệu PHILIPS màu đen là của chị B cho bị cáo mượn sử dụng không biết bị cáo sử dụng để thực hiện tội phạm nên cần trả lại cho bà B; 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu vàng, ốp lưng màu hồng đen và sim số 0941.598.168 là điện thoại làm phương tiện lưu giữ hình ảnh gái bán dâm cũng như trao đổi để môi giới mại dâm những lần trước đó cần tịch thu phát mãi sung quỹ nhà nước. Tiền Việt Nam 500.000đ là tiền của T để trao đổi mua bán dâm, dù không phải tiền phạm tội nhưng có liên quan đến hành vi phạm tội và sử dụng vào giao dịch trái pháp luật, chưa được cơ quan có thẩm quyền xử lý khi xử phạt hành hính đối với T và T.M, nên tịch thu sung quỹ nhà nước.

Về án phí, bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm d, đ khoản 2 Điều 328; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; của Bộ luật Hình sự; Điều 47 của Bộ luật Hình sự và các Điều 106, 135, 136, 292, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Như Q phạm tội "Môi giới mại dâm".

Xử phạt bị cáo Nguyễn Như Q 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Được trừ thời gian tạm giữ 09 (chín) ngày từ 12/6/2020 đến 20/6/2020.

Buộc bị cáo Nguyễn Như Q nộp số tiền thu lời bất chính 250.000đ (hai trăm năm mươi ngàn đồng) để sung quỹ nhà nước.

Về xử lý vật chứng đã thu giữ trong vụ án, đang do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/9/2020.

Tịch thu tiêu hủy 01 bao cao su hiệu VIP màu vàng đã qua sử dụng và 01 bao cao su hiệu AOXINNI màu vàng đã qua sử;

Trả lại cho chị Trương Thị B 01 điện thoại di động hiệu PHILIPS màu đen đã qua sử dụng;

Tịch thu phát mãi sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu vàng, ốp lưng màu hồng đen và sim số 0941.598.168;

Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền Việt Nam 500.000đ (Năm trăm ngàn đồng) đang được gửi tại Kho bạc nhà nước tỉnh Cà Mau theo Ủy nhiệm chi số 13 ngày 11/9/2020.

Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải nộp số tiền là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Trương Thị B có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ