vanban.org

Bản án 172/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội Tuyên án 22/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Viết Kh phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Viết Kh 08 (tám) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo Đỗ Viết Kh cho Ủy ban nhân dân xã Quảng Bị, huyện Chương M… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Viêt Kh - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Viết Kh phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 100 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH TRÌ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 172/2020/HS - ST
Ngày: 22/9/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Hồng Phương Các Hội thẩm nhân dân :

1. Ông Trần Văn Huy

2. Ông Nguyễn Anh Đức

Thư ký phiên tòa:

Bà Phạm Thị Trang - Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hương - Kiểm sát viên

Ngày 22 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 189/2020/HS- ST ngày 03/9/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 189/2020/QĐXXST - HS ngày 09/9/2020 đối với bị cáo:

ĐỖ VIẾT KH, sinh ngày 23/7/2003 (phạm tội khi 16 tuổi 0 tháng 09 ngày); HKTT: Đội 8 Thôn 5, xã Quảng Bị, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội; hiện ở: Đội 7 Thôn 2, xã Quảng Bị, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ văn hoá: 11/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Viết Hùng (đã chết) và bà Đặng Thị V; Tiền án, tiền sự: Không - Theo Danh chỉ bản số 318 lập ngày 04/6/2020 tại Công an huyện Thanh Trì; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú – Có mặt tại phiên tòa.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Đỗ Viết Kh: Bà Đặng Thị V; sinh năm 1974; địa chỉ: Đội 7 Thôn 2, xã Quảng Bị, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội; Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Viết Kh: Bà Đinh Thị Phương Mai – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hà Nội; có mặt.

Người bị hại: Chị Cao Thị Huyền Ch; sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn Thượng Phúc, xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội; Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Cháu Nguyễn Văn T; sinh ngày 05/11/2003; địa chỉ: Thôn Xuân Quang, xã Đội Bình, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội; Vắng mặt.

Người đại diện theo pháp luật của cháu Tuấn: Chị Nguyễn Thị Sử (tức Yến) sinh năm 1971 – là mẹ đẻ; địa chỉ: Thôn Xuân Quang, xã Đội Bình, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội; Vắng mặt.

2. Cháu Đặng Đình Đ; sinh ngày 22/5/2006; địa chỉ: Đội 11, thôn Liên Hợp, xã Quảng Bị, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội; Vắng mặt.

Người đại diện theo pháp luật của cháu Điệp: Ông Đặng Đình Ngọc sinh năm 1980 và bà Nguyễn Thị Hồng sinh năm 1981 – là bố mẹ đẻ; đều trú tại: Đội 11, thôn Liên Hợp, xã Quảng Bị, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội; Vắng mặt.

3. Cháu Trần Hoàng D; sinh ngày 01/11/2004; địa chỉ: Đội 9, thôn Liên Hợp, xã Quảng Bị, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội; Vắng mặt.

Người đại diện theo pháp luật của cháu Dũng: Ông Trần Viết Tuấn sinh năm 1979 và bà Đỗ Thị Huệ sinh năm 1981 – là bố mẹ đẻ; đều trú tại: Đội 9, thôn Liên Hợp, xã Quảng Bị, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do Nguyễn Văn T làm thuê cho cơ sở sản xuất bánh cuốn của chị Cao Thị Huyền Ch tại thôn Thượng Phúc, xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội thấy trong phòng bếp của gia đình chị Chang có 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Biển kiểm soát 29M1-321.78 nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khoảng 22 giờ ngày 01/8/2019, Tuấn rủ Đỗ Viết Kh, Đặng Đình Đ đến nhà chị Chang để trộm cắp tài sản. Khi đến nơi, Khải và Tuấn đẩy Điệp trèo tường vào trong nhà chị Chang lấy chùm chìa khóa đang cắm ở ổ khóa điện của xe mô tô rồi mang ra đưa cho Khải mở cổng vào trong bếp dắt chiếc xe mô tô ra ngoài. Tuấn đứng ngoài cảnh giới. Sau khi lấy được xe, Khải điều khiển xe chở Tuấn và Điệp tẩu thoát.

Ngày 02/8/2019, chị Cao Thị Huyền Ch có đơn trình báo Công an về việc mất trộm xe.

Khoảng 3-4 ngày sau, Tuấn gọi điện thoại cho Trần Hoàng D đến quán internet tại Đội 2 xã Quảng Bị, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội để gặp Tuấn và Khải. Tại đây, Tuấn, Khải bán chiếc xe Honda Wave màu đỏ Biển kiểm soát 29M1-321.78. Dũng biết chiếc xe do trộm cắp mà có nhưng vẫn mua với giá 1.500.000 đồng. Sau khi mua xe, Dũng đã mang xe đi sửa, tháo biển số xe và sơn lại màu xe. Đến ngày 21/9/2019, Dũng cùng Tuấn sử dụng chiếc xe máy trên đi trên khu vực Hồ Hoàn Kiếm thì bị Tổ Công tác 141 kiểm tra hành chính và bắt giữ lại.

Theo Kết luận định giá tài sản số 276/KLĐG ngày 10/8/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thanh Trì kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave có giá trị: 9.872.500 đồng.

Tại cơ quan điều tra, Đỗ Viết Kh, Nguyễn Văn T, Đặng Đình Đ và Trần Hoàng D khải nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Chiếc xe mô tô Honda Wave qua điều tra xác định là tài sản của chị Cao Thị Huyền Ch nên Cơ quan điều tra đã trao trả lại xe cho chị Chang. Chị Chang đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì khác.

Đối với Nguyễn Văn T, Đặng Đình Đ có hành vi trộm cắp tài sản và Trần Hoàng D có hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, nhưng do các đối tượng trên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Trì đã ra Quyết định Xử phạt hành chính đối với Nguyễn Văn T và Trần Hoàng D. Đặng Đình Đ chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hành chính nên Cơ quan điều tra không xử lý.

Bản cáo trạng số 165/CT - VKSTT ngày 31/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã truy tố bị cáo Đỗ Viết Kh về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

* Bị cáo Đỗ Viết Kh thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu, thừa nhận tội danh bị truy tố là đúng. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo cơ hội sửa chữa sai lầm của mình.

* Người đại diện hợp pháp của bị cáo Đỗ Viết Kh – bà Đặng Thị V đề nghị Hội đồng xét xử xem xét: Bị cáo bị bạn bè rủ rê lôi kéo, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, phạm tội khi tuổi chưa thành niên mà giảm nhẹ mức hình phạt đối với bị cáo, cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội để gia đình cùng chính quyền địa phương giáo dục bị cáo, cho bị cáo cơ hội được tiếp tục đi học.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 54; khoản 1 Điều 91; Điều 100 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 08 đến 14 tháng cải tạo không giam giữ.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường đối với chiếc biển kiểm soát bị mất nên không xem xét giải quyết và không buộc bị cáo tịch thu xung công số tiền 1.500.000 đồng.

* Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Viết Kh - Trợ giúp viên pháp lý Vũ Hồng Hải phát biểu quan điểm bào chữa: Nhất trí với nội dung và điều khoản truy tố đối với bị cáo Ánh, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết: Phạm tội lần đầu, khi phạm tội, bị cáo mới 16 tuổi 0 tháng 9 ngày, hành vi phạm tội bột phát, bị lôi kéo, thành khẩn khai báo, tài sản đã thu hồi trả lại cho người bị hại, bị cáo tự nguyện nộp lại toàn bộ số tiền 1.500.000 đồng – là số tiền thu lời bất chính có được từ việc bán xe. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố bị cáo mất khi bị cáo còn nhỏ, hiện nay bị cáo đang học lớp 11 trường Trung học phổ thông Chương Mỹ B, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 91; Điều 100 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất và cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội để gia đình cũng chính quyền địa phương giáo dục bị cáo, cho bị cáo cơ hội được đi học và làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Trì, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, người bị hại là chị Cao Thị Huyền Ch đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin vắng mặt, không có ý kiến gì về bồi thường dân sự. Đối với các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là các cháu Nguyễn Văn T, Đặng Đình Đ, Trần Hoàng D và người đại diện hợp pháp của các cháu vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, quá trình điều tra cũng đã làm rõ lời khai và ý kiến của những người này, Tòa án cũng đã tống đạt Giấy triệu tập xét xử hợp lệ. Xét thấy, việc vắng mặt của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện hợp pháp của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về tội danh của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp vật chứng thu được, Kết luận định giá tài sản, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 22 giờ ngày 01/8/2019, Đỗ Viết Kh cùng Nguyễn Văn T, Đặng Đình Đ đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc xe máy Honda Wave Biển kiểm soát 29M1-321.78 của chị Cao Thị Huyền Ch - Trị giá tài sản là 9.872.500 đồng.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoàng mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do đó, với bị cáo cần thiết phải xử lý bị bằng pháp luật hình sự.

Xét vai trò phạm tội của bị cáo: Khi được Nguyễn Văn T rủ đi trộm cắp tài sản, Khải đã đồng ý và cùng Tuấn, Điệp thực hiện. Sau khi trộm cắp được tài sản, bị cáo đã cùng Tuấn mang bán cho Trần Hoàng D được 1.500.000 đồng và ăn tiêu hết. Do Tuấn và Dũng chưa đủ tuổi truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử phạt hành chính. Điệp chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hành chính nên cơ quan điều tra không xử lý.

Xác định Khải mặc dù bị rủ rê nhưng đã tích cực thực hiện hành vi phạm tội. Để trừng trị đồng thời cải tạo giáo dục bị cáo và làm bài học răn đe, phòng ngừa chung, cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo. Khi quyết định hình phạt, cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, có thái độ ăn năn hối cải, lần đầu phạm tội, tài sản trộm cắp đã thu hồi trả lại bị hại. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, thực hiện hành vi phạm tội khi mới 16 tuổi 0 tháng 09 ngày, Hội đồng xét xử thấy có thể cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội một thời gian nhất định cũng có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người chưa thành niên nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Cao Thị Huyền Ch đã nhận lại toàn bộ tài sản, không có yêu cầu gì về dân sự nên Tòa án không xét.

Về biện pháp tư pháp: Đối với khoản tiền 1.500.000 đồng – là số tiền Khải và Tuấn đã bán xe cho Trần Hoàng D, cần xác định đây là tiền thu lời bất chính mà Khải và Tuấn từ việc phạm tội. Đáng lẽ phải buộc Khải và Tuấn phải truy nộp vào ngân sách nhà nước. Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Viết Kh xin được nộp toàn bộ số tiền 1.500.000 đồng vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Viết Kh phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 98; Điều 36; Điều 100 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Viết Kh 08 (tám) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Đỗ Viết Kh cho Ủy ban nhân dân xã Quảng Bị, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

Không khấu trừ thu nhập của bị cáo Đỗ Viết Kh.

3. Về Biện pháp tư pháp: Áp dụng các điều 46, 47 Bộ luật Hình sự.

- Buộc bị cáo Đỗ Viết Kh nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 1.500.000 đồng tiền thu lời bất chính.

4. Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Án xử công khai, sơ thẩm, có mặt bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa. Báo cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện hợp pháp của họ vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ