- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "ông S kiện ông D tranh chấp QSDĐ"
- Căn cứ chính? Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân s; Điều 29 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân s
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 172/2020/DS-PT Ngày: 17/7/2020 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG
- THnh phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn THnh Trung
Các Thẩm phán:
Ông Huỳnh Văn Luật
Bà Lê Thị Kim Anh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Song Toàn – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- i di n i n i m s t nh n d n t nh B“nh ư ng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Xông – Ki m sát viên.
Trong ngày 17/7/2020, tại trụ s Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân s thụ lý số 203/2020/TLPT-DS ngày 03/6/2020 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án sơ thẩm số Bản án dân s sơ thẩm số 46/2019/DS-ST ngày 29/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương ị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 207/2020/QĐPT-DS ngày 25/6/2020, giữa các đương s :
- Nguyên đơn: Ông Võ Văn S, sinh năm 1947; địa chỉ: Ấp BT, xã AB, huyện P, tỉnh Bình Dương; ủy quyền cho ông Nguyễn Đ, sinh năm 1978; địa chỉ: 160/24/1 Phan Huy Ích, Phường 12, quận G, THnh phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên lạc: 451/1C, Bạch Đằng, Phường 2, quận Tân Bình, THnh phố Hồ Chí Minh (văn bản ủy quyền ngày 06/6/2017). Ông S, ông Đức có mặt.
- Bị đơn: Ông Võ Văn T, sinh năm 1976 và bà Tạ Thị D, sinh năm 1982; cùng địa chỉ: Ấp BT, xã AB, huyện P, tỉnh Bình Dương. Bà D ủy quyền cho ông Võ Văn T (theo văn ản ủy quyền ngày 15/6/2017). Ông T có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ, liên quan:
1. Bà Võ Thị H, sinh năm 1982; địa chỉ: Ấp BT, xã AB, huyện P, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin vắng mặt.
2. Bà Lê Thị P, sinh năm 1968; địa chỉ: Ấp BT, xã AB, huyện P, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin vắng mặt.
3. Bà Trương Thị Tr, sinh năm 1940; địa chỉ: Ấp BT, xã AB, huyện P, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin vắng mặt.
4. Ông Võ Văn Sn, sinh năm 1971; địa chỉ: Ấp BT, xã AB, huyện P, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
Người háng cáo: Nguyên đơn ông Võ Văn S.
NỘI D NG V ÁN
Theo đơn khởi kiện, các lời khai và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn và ngƣời đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ông Võ Văn S được nH nước công nhận quyền sử dụng phần đất có diện tích 99.500 m2 thuộc các thửa số 36, 01, 02, 03, 04, 05, 06, 07, 08, 09, 16, 27, 28, 30, 31, 32, 33, 35, 38, 39, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 50, 53, tờ ản đồ số 65 đất tọa lạc tại ấp BT, xã AB, huyện P, tỉnh Bình Dương. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00177/QSDĐ/PG ngày 21/6/2002. Vào năm 2011, do thấy con trai là Võ Văn T và con dâu là Tạ Thị D có cuộc sống khó khăn nên ông S có cho ông T mượn một phần đất có diện tích khoảng 18.000m2 đ làm ăn sinh sống, trên đất lúc đó có sẵn 250 cây su và khoảng 01 ha điều, việc cho mượn đất chỉ ằng lời nói, không lập tHnh giấy tờ gì, chỉ nói khi nào cần thì lấy lại, từ khi nói cho mượn đất thì ông S đã giao đất cho ông T quản lý, sử dụng và canh tác trên đất. Trong quá trình mượn đất thì ông T đã t ý cưa cây điều của ông S. Do ông S ngày càng già yếu, lại hay đau ệnh nên ông S muốn lấy lại phần đất đã cho ông T mượn nhưng ông T không chịu trả, ông S đã yêu cầu UBND xã AB giải quyết nhưng không có kết quả nên ông S kiện ra Tòa án.
Nay ông S yêu cầu Tòa án giải quyết uộc ông Võ Văn T và à Tạ Thị D phải trả cho ông phần đất có diện tích 19.159,3m2 (theo kết quả đo đạc th c tế), thuộc các thửa 27, 28, 30, 31, 32, 33, 35, 38, 39, 42, 43, 44, 46, 47, 50, 51, tờ ản đồ số 65 đất tọa lạc tại ấp BT, xã AB, huyện P, tỉnh Bình Dương cùng toàn ộ tài sản trên đất.
Đối với Giấy xác nhận cho đất ngày 11/8/2011 do ị đơn cung cấp ông S không đồng ý. Vì ông S không có làm giấy cho đất cho ông T, ông S không có ký tên, lăn tay vào giấy cho đất nào cả. Khi ông S cho ông T mượn đất thì ông S có ký tên vào một tờ giấy tập, không có ghi nội dung, ngày tháng, mục đích ký là đ ông T tin tư ng là ông S có cho ông T mượn đất (chỉ có ký tên, không ghi họ tên cũng không lăn tay), khi ký vào tờ giấy tập thì chỉ có ông S và bà H ký tên và ký gần nhau, ngoài ra không có ai khác ký, chính từ tờ giấy này mà ông T đã t viết thêm nội dung ông S cho đất vào. Ông S đề nghị Tòa án uộc ị đơn ông T phải giao nộp tờ giấy mà ông S đã ký giao cho ông T.
Đối với kết quả giám định chữ ký, chữ viết và dấu vân tay trong Giấy xác nhận cho đất ngày 11/8/2011 do ông T yêu cầu ông S không có ý kiến gì, ông S cũng không yêu cầu giám định lại hay giám định ổ sung.
Đối với yêu cầu phản tố của ị đơn yêu cầu Tòa án công nhận phần đất có diện tích 19159,3m2 (theo kết quả đo đạc th c tế), tọa lạc tại ấp BT, xã AB, huyện P, tỉnh Bình Dương thì ông S không đồng ý vì ông S không cho đất cũng không làm làm giấy cho đất ông T nên ông T yêu cầu công nhận đất cho ông T là không có căn cứ đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu phản tố của ị đơn.
Bị đơn trình bày:
Ông không đồng ý với yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn i vì: Vào ngày 11/8/2011, ông S có làm giấy tay cho ông một phần đất khoảng 16.000m2 đất tọa lạc tại ấp BT, xã AB, huyện P, tỉnh Bình Dương. Khi ông S cho đất thì có làm giấy tay cho đất, việc cho đất đã được các tHnh viên trong gia đình àn ạc công khai, thống nhất nên ông S mới làm giấy tay cho đất, ông S có ký tên, viết tên và lăn tay vào, ngoài ra còn có mẹ của ông là à Trương Thị Tr, em gái của ông là à Võ Thị H, trư ng ấp BT là ông Doãn Xuân Dưỡng chứng kiến và ký xác nhận vào, sau đó ông đã nhờ xác nhận của UBND xã AB. Từ khi ông S cho đất thì ông đã quản lý, sử dụng và canh tác trên phần đất này, cụ th ông đã trồng cao su trên đất và khai thác cao su, tiền thuế sử dụng đất Hng năm của phần đất trên đều do ông đóng.
Nay nguyên đơn kh i kiện cho rằng chỉ cho ông mượn đất canh tác, không phải là cho ông đất thì ông không đồng ý. B i vì Giấy xác nhận cho đất ngày 11/8/2011 được ông S ký xác nhận, lăn tay và có xác nhận của chính quyền địa phương. Lúc đầu ông S không thừa nhận chữ ký và dấu vân tay là của ông S nên ông T đã trưng cầu giám định và theo kết luận giám định đó là chữ ký, chữ viết và dấu vân tay của ông S. Nay ông T đề nghị Tòa án công nhận cho ông T phần đất có diện tích 19159,3m2 (theo kết quả đo đạc th c tế) và tài sản trên đất cho ông theo như yêu cầu phản tố của ông.
Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:
- Bà Võ Thị H trình ày: Bà không thống nhất với yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn vì à iết được s việc ông Võ Văn S có cho ông Võ Văn T đất, không phải cho mượn, à không nhớ chính xác diện tích là ao nhiêu chỉ nhớ khoảng 1.6ha, nhưng hiện nay đo đạc th c tế là khoảng 1.9ha. Khi à đi làm về thì ông Doãn Xuân Dưỡng đang nH à, ông Dưỡng yêu cầu à ký tên vào Giấy xác nhận cho đất đ làm chứng s việc ông S cho ông T đất. Bà yêu cầu Tòa án công nhận phần đất cho ông T. Bà không có đơn yêu cầu độc lập và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bà Trương Thị Tr trình bày: Vào ngày 11/8/2011, thì bà và ông S có thống nhất là cho ông T một phần đất, ao gồm 06 sào đất và 01 phần đất hoang, à không iết chính xác diện tích là ao nhiêu, khi đó có làm giấy cho đất, à và ông S đều thống nhất cho đất nên có ký tên và lăn tay vào giấy xác nhận cho đất nói trên, từ khi cho đất thì đã giao đất cho ông T quản lý, sử dụng và canh tác, ông T đã trồng cao su trên đất, Hng năm ông T là người đóng thuế sử dụng đất, à không thống nhất với yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn về yêu cầu đòi lại đất vì đất đã cho ông T rồi, à không có yêu cầu độc lập và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Ông Võ Văn Sn trình ày: Ông không iết về giấy xác nhận cho đất, ông chỉ nghe ông S nói lại là chỉ cho ông T mượn đất đ canh tác, không phải cho luôn, ông thống nhất với yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn về việc uộc ị đơn trả lại đất, sau đó ông S cho ông T đất khi nào, ao nhiêu đất thì tùy vào ông S, ông không có yêu cầu độc lập.
- Bà Lê Thị P trình bày: Vào khoảng năm 1999 thì à có S nhượng lại cho ông S 01 phần đất diện tích khoảng 2.000m2, lúc đó trên đó có nọc tiêu xây ằng gạch với giá tiền là 140.000.000đ (Một trăm ốn mươi triệu đồng), việc S nhượng chỉ ằng lời nói, không có làm giấy tờ, năm 2002 có quy hoạch làm sổ đại trà nên ông S đi làm sổ ao gồm cả phần đất khoảng 04ha của à đến năm 2006 thì ông S mới đi tách Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại cho à với diện tích là 3.5943m2, thuộc thửa đất số 45, 53, tờ ản đồ số 65, đất tọa lạc tại ấp BT, xã AB, huyện P, tỉnh Bình Dương, khi đó đã trừ lại 2.000m2 mà bà S nhượng lại cho ông S (2.000m2 vẫn nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông S), do ông S không có tiền trả cho à nên đến khoảng năm 2011, 2012 à, ông S và ông T thỏa thuận là đ ông T trả số tiền 140.000.000đ (Một trăm ốn mươi triệu đồng) cho à và ông T sẽ được quản lý, sử dụng và canh tác trên phần đất 2.000m2 mà à đã S nhượng lại cho ông S, thỏa thuận giữa các ông, à chỉ ằng lời nói, không lập giấy tờ gì, khi ông T trả số tiền 140.000.000đ (Một trăm ốn mươi triệu đồng) cho à thì cũng không làm giấy tờ gì. Hiện nay, phần đất 2.000m2 trên vẫn do ông T, quản lý, sử dụng. Bà có iết s việc ông S cho đất ông T nhưng à không iết diện tích chính xác là ao nhiêu vì à không có ký tên vào giấy xác nhận cho đất. Bà thống nhất với yêu cầu của ông T về việc yêu cầu công nhận phần đất cho ông T. Bà không có yêu cầu độc lập gì và có đơn xin vắng mặt.
Bản án dân s sơ thẩm số 46/2019/DS-ST ngày 29/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương đã tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn ông Võ Văn S đối với ị đơn ông Võ Văn T, à Tạ Thị D về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ị đơn ông Võ Văn T đối với ông Võ Văn S về việc yêu cầu công nhận phần đất cho ị đơn.
Công nhận cho ị đơn ông Võ Văn T phần đất có diện tích 19.159,3m2, thuộc thửa đất số 27, 28, 30, 31, 32, 35, 38, 39, 42, 43, 46, 47, 50, 51, 44, 33, tờ ản đồ số 65 tọa lạc tại ấp BT, xã AB, huyện P, tỉnh Bình Dương cùng toàn ộ tài sản trên đất, phần đất đã được Uỷ an nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ: 00177 QSDĐ/PG do UBND huyện P cấp cho hộ ông Võ Văn S vào ngày 21/6/2002. Phần đất có tứ cận:
Phía Đông giáp đất ông Bùi Văn Đằng và à Lê Thị P;
Phía Tây giáp Suối;
Phía Nam giáp đất à Võ Thị H, à Trương Thị Nhợ;
Phía Bắc giáp Suối
(Chiều dài các cạnh được th hiện theo sơ đồ bản vẽ kèm theo)
Ông Võ Văn T được liên hệ với các cơ quan nH nước có thẩm quyền đ yêu cầu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Kiến nghị Ủy an nhân dân huyện P thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T058674, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận 00177/QSDĐ/PG ngày 21/6/2002 cho hộ ông Võ Văn S đ điều chỉnh lại cho phù hợp với ản án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí thẩm định, định giá tài sản, chi phí giám định, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 13/12/2019, ông Võ Văn S là nguyên đơn có đơn kháng cáo toàn ộ ản án sơ thẩm đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm, sửa ản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn và người đại diện giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Ý kiến của Ki m sát viên đại diện Viện Ki m sát nhân dân tỉnh Bình Dương: Những người tiến Hnh tố tụng và người tham gia tố tụng tại Tòa án cấp phúc thẩm đã th c hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân s . Về tố tụng: Theo đơn kh i kiện, nguyên đơn kh i kiện đòi lại đất và tài sản gắn liền đất. Tòa án cấp sơ thẩm xác định sai quan hệ pháp luật và công nhận cho ị đơn sử dụng diện tích đất 19.159,3m2 trong đó có thửa số 51 là không phù hợp. Giấy cho đất ị đơn chưa đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền nên chưa có hiệu l c, ông S đòi lại đất là có cơ s . Trên đất còn có tài sản, cây trồng của ị đơn nhưng chưa được làm rõ. Xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm thu thập chứng cứ chưa đầy đủ và có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông S, hủy ản án sơ thẩm đ cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, ý kiến Ki m sát viên;
NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN
[1] Về quan hệ: Ông Võ Văn S là chồng của à Trương Thị Tr (đã ly hôn theo Bản án phúc thẩm số 21/2013/HNGĐ-PT ngày 04/6/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương). Ông S và bà Tr có 03 người con gồm ông Võ Văn T, ông Võ Văn Bạc, à Võ Thị H. Trước khi chung sống với à Tr, ông S có vợ là à Huỳnh Thị Bi n, ông S và à Bi n có một người con chung tên Võ Văn Sn. Trước khi chung sống với ông S, bà Tr cũng đã có chồng và có 02 người con là à Lê Thị P và ông Lê Minh Triều. Bà D là vợ của ông T.
[2] Ông S kh i kiện ông T, bà D yêu cầu ông T, bà D trả lại diện tích đất 19.159,3m2 và 250 cây cao su, 0,7ha cây điều trên đất tọa lạc tại ấp BT, xã AB, huyện P, tỉnh Bình Dương. Ông S cho rằng: Phần đất và cây cao su, cây điều trên đất là của ông đã được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 21/6/2002. Năm 2011, thấy hoàn cảnh của vợ chồng ông T, bà D khó khăn nên ông cho con mượn đất và cây cao su, điều trên đất đ khai thác, canh tác nuôi vợ con. Ông không có cho ông T đất và tài sản trên đất. Giấy xác nhận cho đất ngày 11/8/2011 là do ông ị ông T lừa ký cho đất. Quá trình giải quyết vụ án, ông S rút một phần yêu cầu kh i kiện đòi lại 0,7ha cây điều.
[3] Ông T, bà D khai: Phần đất diện tích 19.159,3m2 là ông được cha, mẹ là ông S, bà Tr cho theo Giấy xác nhận cho đất ngày 11/8/2011; trên đất khi cho có 250 cây cao su và một số cây điều (số cây điều ông T đã cưa, chặt ỏ và trồng mới lại cây cao su). Theo giấy cho đất thì diện tích đất được cho là 16.000m2. Số diện tích đất còn lại 3.159,3m2 là do ông S mua của à P nhưng không có tiền trả nên ông T thay ông S trả cho à P 140.000.000 đồng và ông S cũng cho ông luôn phần đất này khi làm giấy xác nhận cho đất. Việc mua án đất giữa ông S với à P cũng như việc ông T trả tiền cho à P do cha con, chị em với nhau nên không làm giấy tờ. Ông T, bà D không đồng ý yêu cầu kh i kiện của ông S và có yêu cầu phản tố đề nghị công nhận cho ông được sử dụng diện tích đất 19.159,3m2 và cây cao su trên đất.
[4] Xét về tố tụng: Theo Đơn kh i kiện ngày 13/4/2016 và đơn kh i kiện ổ sung ngày 24/02/2017, ông S kh i kiện ông T, bà D yêu cầu trả lại diện tích đất 19.159,3m2, 250 cây cao su, 0,7ha cây điều trên đất. Quá trình gải quyết vụ án, ông S rút yêu cầu kh i kiện đối với số cây điều. Đây là “tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất”. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật là “tranh chấp quyền sử dụng đất”, không giải quyết phần tranh chấp tài sản 250 cây cao su trên đất và không đình chỉ đối với phần yêu cầu kh i kiện đòi lại số cây điều mà ông S đã rút là xác định không đầy đủ quan hệ pháp luật, giải quyết không triệt đ yêu cầu kh i kiện của ông S; vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng các Điều: 5, 26, 244 BLTTDS và hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao tại mục 7, phần IV Công văn 01/2017/GĐ-TANDTC, ngày 07/4/2017. Tại Quyết định đưa vụ án ra xét xử ( út lục 206) Ki m sát viên tham gia phiên tòa là à Nguyễn Phương Linh, nhưng bản án sơ thẩm ghi Ki m sát viên tham gia phiên tòa là ông Trịnh Đình Phượng.
[5] Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 21/6/2002, thì UBND huyện P cấp cho hộ ông Võ Văn S. Theo các Sổ hộ khẩu thu thập được thì Sổ hộ khẩu gia đình số 62 (không rõ ngày tháng năm) do UBND huyện P cung cấp thì chủ hộ là ông S, người trong hộ là ông Sn. Theo Sổ Hộ khẩu năm 2006 thì chủ hộ là ông S, người trong hộ là ông T, bà D. Theo Sổ Hộ khẩu năm 2016 thì chủ hộ là ông S, người trong hộ là ông Sn (Sổ Hộ khẩu năm 2006 và năm 2016 là sau thời đi m cấp đất). Lời khai của các đương s tại Biên ản làm việc ngày 17/6/2020 và tại phiên tòa phúc thẩm không thống nhất về tHnh viên trong hộ vào thời đi m cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tòa án cấp sơ thẩm không thu thập chứng cứ, làm rõ (hỏi UBND cấp có thẩm quyền) vào thời đi m cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông S vào ngày 21/6/2002 thì trong hộ gồm có những ai đ xem xét đưa đầy đủ người tham gia tố tụng về quyền và nghĩa vụ của họ theo khoản 29, Điều 3 Luật Đất đai; các Điều: 116, 118 Bộ luật Dân s năm 1995; mục 4, phần III Công văn 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 và mục 1 Công văn số 152/TANDTC-PC, ngày 19/7/2017 của Tòa án nhân dân tối cao.
[6] Theo Giấy xác nhận cho đất ngày 11/8/2011, diện tích đất ông S cho ông T là 16.000m2 (không xác định thuộc thửa đất nào nhưng lời khai của ông T là được cha cho khu đất giáp suối). Giấy này do ông Doãn Xuân Dưỡng – Trư ng ấp BT viết và ông T cất giữ. Con số 16.000m2 có s sửa chữa nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không thu thập chứng cứ hoặc giám định làm rõ con số nguyên thủy an đầu. Theo hồ sơ đất đai thì ông S đăng ký kê khai không có thửa số 51; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông S cũng không có thửa 51. Tòa án cấp sơ thẩm công nhận cho ông T được sử dụng 19.159,3m2 đất trong đó có thửa 51 nhưng chưa làm rõ thửa đất số 51 này là của ai? Diện tích ao nhiêu? Ai đăng ký kê khai? Đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay chưa? Giấy xác nhận cho đất ngày 11/8/2011 thì ông S khai chỉ cho ông T mượn đất và tài sản trên đất, ông không giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T và ông T cũng chưa đăng ký vào sổ địa chính nên việc cho đất chưa có hiệu l c theo quy định tại Điều 692 Bộ luật Dân s năm 2005; các Điều: 46, 127 Luật Đất đai năm 2003; Điều 146 Nghị định 181/2004/NĐ-CP, ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi Hnh Luật Đất đai.
[7] Theo Giấy xác nhận cho đất thì diện tích đất ông T được cho là 16.000m2. Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng ông S đã giao toàn ộ diện tích đất theo đo đạc th c tế 19.159,3m2 cho ông T và công nhận cho ông T được sử dụng 19.159,3m2 là không đúng. Theo hồ sơ đất đai, ông S chủ hộ gia đình đứng tên đăng ký quyền sử dụng đất thì nguồn gốc đất là do khai phá năm 1980. Không có tài liệu nào th hiện à P có án một phần đất cho ông S và ông T thay ông S trả tiền đất cho à P.
[8] Thấy rằng: Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết vụ án thu thập chứng cứ không đầy đủ và có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; cần hủy bản án sơ thẩm đ giải quyết lại vụ án đảm ảo quyền và lợi ích hợp pháp của các ên đương s . Yêu cầu kháng cáo của ông S là có cơ s chấp nhận một phần. Ý kiến của Ki m sát viên là phù hợp. Án phí phúc thẩm: Các đương s không phải chịu.
Vì các lẽ trên;
Q YẾT Đ NH:
- Căn cứ các Điều: 148; khoản 3, Điều 308; Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân s ;
- Căn cứ Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông Võ Văn S. Hủy Bản án số 46/2019/DS-ST ngày 29/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương. Chuy n hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện P giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
2. Án phí phúc thẩm: Chi cục Thi Hnh án dân s huyện P, tỉnh Bình Dương hoàn lại 300.000 đồng cho ông Võ Văn S theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0043074 ngày 13/01/2020.
Bản án phúc thẩm có hiệu l c pháp luật k từ ngày tuyên án./.
N i nhận:
| - Các đương s ; - VKSND tỉnh Bình Dương; - Tòa án nhân dân huyện P; - Chi cục THADS huyện P; - Lưu: HS, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn THnh Trung |