- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội cố ý gây thương tích; - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 L…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Minh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 172/2019/HS-ST Ngày 13- 6- 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Ông Đặng Ngọc Quân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hoàn;
2. Bà Nguyễn Ngọc Diệp.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Anh, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sơn, Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 135/2019/HSST ngày 26 tháng 4 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 170/2019/HSST-QĐ ngày 24 tháng 5 năm 2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2019/HSST-QĐ ngày 05 tháng 6 năm 2019, đối với bị cáo:
Trần Minh T, sinh năm 1985, tại thành phố Cần Thơ; thường trú: Ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Văn T, sinh năm 1964 và bà Tô Kim H, sinh năm 1963 (đã chết); có 01 em ruột, sinh năm 1991; vợ tên Đỗ Thị T, sinh năm 1992 và 02 người con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không, bị bắt tạm giam ngày 29/01/2019 đến ngày 18/3/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Mai Toàn N, sinh năm 1989; thường trú: ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Bà Đỗ Thị T, sinh năm 1992; địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ; vắng mặt.
2. Ông Nguyễn Thanh B, sinh năm 1964; địa chỉ: Khu vực 4, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang; vắng mặt.
- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thùy T; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Anh Mai Toàn N và chị Nguyễn Thùy T là vợ chồng có đăng ký kết hôn từ năm 2009 đến ngày 06/9/2018, anh N và chị T ly hôn và đã có quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn của Tòa án. Khoảng 19 giờ ngày 28/01/2019, Trần Minh T điều khiển xe mô tô hiệu MingXing màu xanh, biển số 61P1–4389 từ nhà trọ tại khu phố Đông B, phường Đông Hòa, thị xã Dĩ An, đến tiệm nail của chị T, địa chỉ số 29/9 khu phố Tây A, phường Đông Hòa, thị xã Dĩ An, chơi. Trong lúc ngồi chơi với cháu Mai Hiếu T, là con chung của chị T và anh N; anh N từ ngoài chạy vào dùng tay đánh vào vùng đầu, vùng lưng của T. T quay lại chống cự lại anh N rồi cả hai vật lộn nhau ngã xuống nền nhà. Đồng thời, T vùng dậy được và chạy ra phía cửa tiệm, T nhìn thấy trên bàn trang điểm ở ngay cửa tiệm có 01 cây kéo màu đỏ, dài 18cm để trên bàn nên T dùng tay phải lấy cây kéo đó để tự vệ; anh N cũng đứng dậy chạy lại đòi đánh T, T dùng cây kéo đang cầm trên tay đâm vào người anh N 02 nhát theo hướng từ trên xuống, một nhát trúng vào vùng má bên trái, một nhát trúng vào vùng nách bên trái của anh N gây thương tích. Anh N chạy vào trong tủ bếp (cách bàn trang điểm khoảng 05 mét đến 06 mét) lấy 01 con dao bằng sắt, dài khoảng 30cm đuổi đánh T. T vứt lại cây kéo rồi bỏ chạy ra ngoài. Anh N dùng con dao đập phá xe mô tô hiệu MingXing màu xanh, biển số 68P1–4389 của T làm cho mặt nạ xe và thân xe bị hư hỏng. Đến ngày 28/01/2019, T đến trụ sở Công an phường Đông Hòa, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Theo kết luận giám định pháp y về thương tích số 0101/TgT/2019 ngày 31/01/2019 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Đồng Nai, kết luận:
- 02 vết thương dưới má trái kích thước 2,5x0,2cm và 02x0,2cm, xấu về thẩm mỹ (áp dụng Chương 9, điều IV, mục 1). Tỷ lệ 15%.
- Vết thương ngực trái kích thước 02x0,2cm (áp dụng Chương 9, điều I, mục 1). Tỷ lệ 01%.
Tỷ lệ tổn thương cơ thể (áp dụng theo phương pháp cộng lùi) do phương tích gây nên của bị hại Mai Toàn N là 16% (mười sáu phần trăm).
Kết luận khác: Vật gây thương tích là vật sắc nhọn.
Đối với hành vi của anh Mai Toàn N dùng dao chém vào xe mô tô hiệu MingXing màu xanh, biển số 68P1–4389 của bị cáo T. Căn cứ Kết luận định giá số 40/BB.ĐG ngày 22/02/2019 của hội đồng định giá thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương cho thấy tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 445.000 đồng, chưa đủ cấu thành tội Cố ý làm hư hỏng tài sản, đã Quyết định xử phạt hành chính về hành vi hủy hoại tài sản với số tiền 3.500.000 đồng theo điểm a khoản 02 Điều 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013.
Đối với hành vi dùng tay đánh bị cáo Tuấn của anh Mai Toàn N, không gây thương tích, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe người khác với, số tiền 2.500.000 đồng theo điểm e khoản 03 Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013.
Vật chứng thu giữ: 01 cây kéo màu đỏ, dài 18cm.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Đỗ Thị T là vợ của bị cáo T đã bồi thường thiệt hại số tiền 20.000.000 đồng (gồm tiền khám chữ bệnh, phục hồi sức khỏe) cho anh Mai Toàn N. Anh N đã nhận tiền và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Chị T không yêu cầu T trả lại số tiền trên.
Cáo trạng số 155/CT-VKS ngày 24 tháng 4 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố Trần Minh T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, để xử phạt bị cáo Trần Minh T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 04 đến 05 năm.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả 01 cây kéo màu đỏ, dài 18cm cho chị T vì đây là tài sản của chị T, chị T không biết việc T sử dụng cây kéo vào mục đích phạm tội.
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại và người làm chứng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung: Khoảng 19 giờ ngày 28/01/2019, tại tiệm nail của chị T địa chỉ số 29/9, khu phố Tây A, phường Đông Hòa, thị xã Dĩ An, Trần Minh Tuấn có hành vi dùng cây kéo màu đỏ, dài 18cm đâm vào người anh Mai Toàn N 02 nhát theo hướng từ trên xuống, một nhát trúng vào vùng má bên trái, một nhát trúng vào vùng nách bên trái của anh N gây thương tích gây thương tích với tỷ lệ 16% tại thời điểm giám định.
Tại Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định: “…
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:....
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này..…”
Như vậy, hành vi của bị cáo Trần Minh Tuấn đã đủ yếu tố cấu thành Tội cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Do đó Cáo trạng số: 155/CT-VKS ngày 24 tháng 4 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo Trần Minh T là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tù tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động tới gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại và lỗi một phần do bị hại gây ra đây là tình tiết được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 nên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Không có.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự.
Về xử lý vật chứng: Xét 01 cây kéo màu đỏ, dài 18cm là tài sản của chị Nguyễn Thùy Trang, Tuấn sử dụng vào việc phạm tội nên cần tuyên trả lại cho chị Trang.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự không đặt ra.
Đối với hành vi của anh Mai Toàn N dùng dao chém xe mô tô hiệu MingXing màu xanh, biển số 68P1–4389 của bị cáo T. Bị thiệt hại 445.000 đồng, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi hủy hoại tài sản với số tiền 3.500.000 đồng theo điểm a khoản 02 Điều 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013.
Đối với hành vi dùng tay đánh bị cáo T của anh Mai Toàn N không gây thương tích, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An đã ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe người khác với số tiền 2.500.000 đồng theo điểm e khoản 03 Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013.
Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương đưa ra tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, mức hình phạt đối với bị cáo hưởng án treo là phù hợp tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát và bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân tốt và thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, Hội xét xử xét thấy có căn cứ bị cáo được hưởng án treo theo quy định của pháp luật.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Minh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trần Minh T 02 (hai) năm 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án ngày 13/6/2019.
Giao bị cáo Trần Minh T cho UBND xã Đông Bình, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 69 của Luật Thi Hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Trả lại cho chị Nguyễn Thùy T 01 cây kéo màu đỏ, dài 18cm.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/4/2019, bút lục số 126).
3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Trần Minh T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm .
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt, được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - VKSND thị xã Dĩ An (01); - Công an TX Dĩ An (01); - Trại tạm giam CA tỉnh Bình Dương (01); - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương (01); - UBND xã Đông Bình, h Thái Lai, tp.Cần Thơ (01); - Phòng PV 27 Công an tỉnh Bình Dương (01); - Phòng PC 81 Công an tỉnh Bình Dương (01); - Bị cáo (01); - Chi cục THA thị xã Dĩ An (01); - TAND tỉnh Bình Dương (01); - Lưu: VT, HS (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Ngọc Quân |