vanban.org

Bản án 172/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Cho chị Nguyễn Thị V ly hôn anh Nguyễn Sỹ Q;

Về con chung: giao con chung Nguyễn Thị NK, sinh ngày 17/01/2014 và Nguyễn Thị NB, sinh ngày 08/4/2016 cho chị Nguyễn Thị V trực tiếp nuôi. Không giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung. Người đang trông giữ con chung có nghĩa vụ giao con chung cho người được Tòa án giao quyền nuôi con khi có yêu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị V ly hôn anh Q"
  • Tòa quyết gì? Cho chị Nguyễn Thị V ly hôn anh Nguyễn Sỹ Q;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔ LƯƠNG
TỈNH NGHỆ AN
________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 172/2019/HNGĐ-ST
Ngày 29-7-2019
V/v ly hôn, tranh chấp
nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG – TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Hồng Thể

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Đình Nhàn

Ông Nguyễn Thanh Bình

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Kỳ

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Thùy Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 95/2019/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2019 và quyết định hoãn phiên tòa số 30/2019/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị V. Sinh năm: 1994.

Địa chỉ: Xóm 9, xã N, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

Vắng mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Sỹ Q. Sinh năm: 1993.

Địa chỉ: Xóm 9, xã N, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện (đơn xin ly hôn) ngày 11/4/2019, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị V trình bày giữa nguyên đơn và bị đơn anh Nguyễn Sỹ Q đăng ký kết hôn ngày 18/02/2013 tại UBND xã N, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống với nhau không hạnh phúc và thường xảy ra nhiều mâu thuẫn. Mâu thuẫn kéo dài đến tháng 7 năm 2017 thì bắt đầu trở nên trầm trọng do anh Q ghen tuông, cãi cọ, chửi bới, xúc phạm và thậm chí còn đánh đập chị V bằng dây xích đến mức để lại thương tích. Từ tháng 6 năm 2018, do không thể sống chung với nhau được nên vợ chồng đã ly thân, không liên lạc với nhau cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị V đã yêu cầu Toà án giải quyết:

- Ly hôn bị đơn anh Nguyễn Sỹ Q;

- Con chung: có 02 con chung là Nguyễn Thị NK, sinh ngày 17/01/2014 và Nguyễn Thị NB, sinh ngày 08/4/2016. Hiện các con chung đang ở cùng chị V. Chị V yêu cầu được nuôi 02 con chung và không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: không yêu cầu tòa án giải quyết.

- Về nghĩa vụ tài sản chung: vợ chồng không nợ cá nhân, tổ chức nào và nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn anh Nguyễn Sỹ Q không có mặt nên Tòa án không thu thập được lời khai của anh Q.

Quá trình xác minh tại UBND xã N, UBND xã N đã cung cấp thông tin với nội dung đúng như lời khai của chị V, phía chính quyền xã đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương phát biểu ý kiến theo quy định tại điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự như sau:

- Về tố tụng:

Thẩm phán đã tuân thủ các quy định của bộ luật tố tụng dân sự trong việc thụ lý vụ án, thông báo thụ lý vụ án, xác định quan hệ tranh chấp, xác minh và thu thập chứng cứ cũng như thời hạn giải quyết vụ án.

Hội đồng xét xử tuân thủ đúng quy định về thành phần, nguyên tắc xét xử, trình tự tố tụng tại phiên tòa.

Thư ký Tòa án thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chấp hành nghiêm chỉnh quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: đề nghị áp dụng điều 28, 35, 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình: giải quyết cho chị Nguyễn Thị V được ly hôn với anh Nguyễn Sỹ Q; giao con chung Nguyễn Thị NK và Nguyễn Thị NB cho chị V trực tiếp nuôi, không giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con; không giải quyết tài sản chung, nghĩa vụ tài sản chung. Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về tố tụng:

Đây là vụ án có tranh chấp về người trực tiếp nuôi con chưa thành niên khi ly hôn nên Tòa án tiến hành thu thập ý kiến của UBND xã N, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An về nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp là phù hợp với quy định tại khoản 3 điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án đã tiến hành Thông báo thụ lý vụ án, triệu tập nguyên đơn, bị đơn nhiều lần hợp lệ đến các buổi làm việc, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như phiên tòa nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do chính đáng; nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy việc vắng mặt của nguyên đơn là có lý do chính đáng, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định tại khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về nội dung:

Xét chị Nguyễn Thị V và anh Nguyễn Sỹ Q đăng ký kết hôn ngày 18/02/2013 tại UBND xã N, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An và không vi phạm các quy định về điều kiện kết hôn tại Điều 9, Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Như vậy hôn nhân hợp pháp.

Chị V trình bày quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn nhau do không hợp nhau về tính cách, và do ghen tuông nên anh Q thường xuyên có hành vi bạo lực, đánh đập chửi bới, xúc phạm đến thân thể, danh dự của chị V. Mặc dù không thu thập được lời khai của anh Q nhưng việc vợ chồng đã sống ly thân trong khoảng thời gian tương đối dài mà không liên lạc với nhau chứng tỏ chị V và anh Q đều không còn muốn duy trì cuộc sống hôn nhân. Như vậy cả hai đã vi phạm nghĩa vụ sống chung, thương yêu, chăm sóc, quan tâm giúp đỡ nhau theo quy định tại điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên có cơ sở để khẳng định, hôn nhân giữa chị V và anh Q đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên cần áp dụng điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014, xử cho chị Nguyễn Thị V ly hôn anh Nguyễn Sỹ Q.

Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Thị NK, sinh ngày 17/01/2014 và Nguyễn Thị NB, sinh ngày 08/4/2016. Nguyên đơn yêu cầu được nuôi 2 con.

Xét, các con chung đều đang do chị V trực tiếp nuôi. Từ khi vợ chồng ly thân cho đến nay, anh Q không có trách nhiệm trong việc hỗ trợ chị V chăm sóc con chung. Quá trình giải quyết vụ án, anh Q không có ý kiến thể hiện nguyện vọng được nuôi con chung, bản thân anh Q cũng không thường xuyên có mặt tại nơi cư trú. Chị V có nơi cư trú ổn định, thu nhập từ 6 triệu đến 7 triệu đồng/tháng nên đủ điều kiện để nuôi dưỡng và chăm sóc con chung. Do vậy, để đảm bảo cho việc sinh hoạt cũng như học tập của con chung cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn giao các con chung cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng. Do nguyên đơn không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nghĩa vụ tài sản chung: nguyên đơn không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa không có kiến nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Xử:

- Cho chị Nguyễn Thị V ly hôn anh Nguyễn Sỹ Q;

- Về con chung: giao con chung Nguyễn Thị NK, sinh ngày 17/01/2014 và Nguyễn Thị NB, sinh ngày 08/4/2016 cho chị Nguyễn Thị V trực tiếp nuôi. Không giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung.

Người đang trông giữ con chung có nghĩa vụ giao con chung cho người được Tòa án giao quyền nuôi con khi có yêu cầu thi hành án.

Anh Q có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Nếu anh Q lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị V có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh Q.

Chị V cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh Q trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

- Về tài sản chung, nghĩa vụ tài sản chung: không giải quyết.

- Về án phí: chị Nguyễn Thị V phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0005112 ngày 11/4/2019 do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương phát hành.

Các đương sự có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

"Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự".

Cỡ chữ