vanban.org

Bản án 172/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND Q. Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 05/05/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

luật Dân sự năm 2015.

thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Kim Q: bà Võ Thùy Tr Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? luật Dân sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 172/2019/DS-ST
Ngày: 05/5/2022
V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Liên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Bùi Diệu Huệ;

2. Ông Hoàng Công Hợp.

Thư ký phiên tòa: Ông Chiêm Tiền Quí Nhân – Thư ký Tòa án nhân dân

quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân,

Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:

481/2020/TLST- DS ngày 04 tháng 11 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng

vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2022/QĐXXST-DS ngày

10/3/2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 46/2022/QĐST-DS ngày 05/4/2022 giữa

các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đặng Kim Q, sinh năm 1948; Nơi ĐKHK thường trú:

A11/7, ấp 1, xã Bình Ch, huyện Bình Ch, Thành phố Hồ Chí M (Bà Đặng Kim Q

có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Bà Võ Thùy Tr; Nơi ĐKHK thường trú: 453/2/8 Tân Hòa Đ,

phường Bình Trị Đ, quận Bình T, Thành phố Hồ Chí M (Bà Võ Thùy Tr vắng mặt

không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai của bà Đặng Kim Q cùng các tài liệu,

chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ thì nội dung vụ án được xác định

như sau:

Vào đầu năm 2020, bà Đặng Kim Q có đăng quảng cáo bán nhà lên mạng,

bà Võ Thùy Tr thấy được thông tin này nên đã tự tìm đến bà Đặng Kim Q và giới

thiệu là người môi giới mua bán nhà đất nên muốn làm môi giới bán nhà của bà

Đặng Kim Q. Trong quá trình hai bên trò chuyện, bà Đặng Kim Q cho bà Võ Thùy

Tr biết muốn bán căn nhà tại địa chỉ A11/7, ấp 1, xã Bình Chánh, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh để mua căn nhà khác. Sau đó, bà Võ Thùy Tr nói có căn nhà số 453/2/8 Tân Hòa Đông, phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh muốn bán nhưng đang cho thuê và đã xuống cấp nên đề nghị bà Đặng Kim Q cho mượn tiền để sửa chữa rồi sẽ chuyển nhượng cho bà Đặng Kim Q nên bà Đặng Kim Q đồng ý và đã chuyển tiền cho bà Võ Thùy Tr 03 lần, lần 01 vào ngày 21/02/2020 chuyển 40,000,000 (bốn mươi triệu) đồng; lần 02 vào ngày 25/02/2020 chuyển 150,000,000 (một trăm năm mươi triệu) đồng; lần 03 vào ngày 04/3/2020 chuyển 200,000,000 (hai trăm triệu) đồng; Tổng cộng cả 03 lần, bà Đặng Kim Q đã chuyển cho bà Võ Thùy Tr 390,000,000 (ba trăm chín mươi triệu) đồng, cả 03 lần đều chuyển tiền từ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – chi nhánh Nam Thành phố Hồ Chí Minh đến tài khoản của bà Võ Thùy Tr số xxxxxxxxxxxx tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương tín. Bà Đặng Kim Q cho bà Võ Thùy Tr mượn tiền nhằm mục đích để bà Võ Thùy Tr sửa chữa căn nhà số 453/2/8 Tân Hòa Đông, phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh để sau đó chuyển nhượng cho bà Đặng Kim Quyên. Bà Võ Thùy Tr mới chỉ hứa chuyển nhượng căn nhà 453/2/8 Tân Hòa Đông, phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh cho bà Đặng Kim Q bằng lời nói còn thực tế hai bên vẫn chưa lập hợp đồng gì.

Bà Đặng Kim Q cam kết toàn bộ số tiền 390,000,000 (ba trăm chín mươi

triệu) đồng đã chuyển cho bà Võ Thùy Tr, trong đó có 40,000,000 (bốn mươi triệu) đồng là tiền riêng của mình; còn 350,000,000 (ba trăm năm mươi triệu) đồng là số tiền cá nhân bà Đặng Kim Q vay của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – chi nhánh Nam Thành phố Hồ Chí Minh; bà Đặng Kim Q chưa từng đăng ký kết hôn với ai cũng như không chung sống như vợ chồng với bất cứ người nào.

Bà Đặng Kim Q chuyển tiền vào tài khoản cá nhân bà Võ Thùy Tr nên bà

Đặng Kim Q không yêu cầu Tòa án đưa chồng bà Võ Thùy Tr (nếu có) vào tham gia tố tụng trong vụ án này với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; cũng như không đề nghị xem xét trách nhiệm liên đới giữa bà Võ Thùy Tr và chồng bà Võ Thùy Tr (nếu có) trong nghĩa vụ trả nợ cho bà Đặng Kim Q.

Nay bà Đặng Kim Q khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Võ Thùy Tr trả cho

bà Đặng Kim Q số tiền 390,000,000 (ba trăm chín mươi triệu) đồng.

Vụ án không tiến hành hòa giải được do vắng mặt bị đơn. Do đó, Tòa án

đưa vụ án ra xét xử công khai.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Tân phát biểu ý kiến và kết

luận:

1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án,

Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:

Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định tại Điều 48, khoản 2 Điều 203 Bộ

luật tố tụng dân sự năm 2015:

- Tòa án có tiến hành xác minh thu thập chứng cứ do đó vụ án thuộc trường

hợp phải gửi hồ sơ để Viện kiểm sát nhân dân nghiên cứu và tham gia phiên tòa

theo quy định tại Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tòa án nhân dân quận

Bình Tân đã tiến hành gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân để kịp

thời nghiên cứu tham gia phiên tòa là tuân thủ đúng quy định tại khoản 2 Điều 220

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Bị đơn có địa chỉ và cư trú tại quận Bình Tân nên thuộc thẩm quyền giải

quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Tân theo quy định tại Điều 26, Điều 35,

Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Trong giai đoạn thụ lý và chuẩn bị xét xử, tòa án đã thực hiện đúng theo

trình tự tố tụng quy định tại các Điều 196, 204, 205, 208, 209, 210, 211 Bộ luật tố

tụng dân sự năm 2015.

- Thời hạn chuẩn bị xét xử: chưa đảm bảo thời hạn chuẩn bị xét xử quy định

tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Các văn bản tố tụng của Tòa án đều được tống đạt hoặc niêm yết cho

đương sự đúng theo quy định của pháp luật.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:

Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố

tụng dân sự năm 2015 về trình tự xét xử sơ thẩm vụ án.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:

Đối với đương sự:

- Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 73,

Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Bị đơn chưa thực hiện nghiêm túc các quy định tại Điều 70, Điều 72, Điều

234 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

2. Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Căn cứ các Chứng từ giao dịch ngày 21/02/2020, 25/02/2020, 04/3/2020 của

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – chi nhánh Nam

Thành phố Hồ Chí Minh, có cơ sở xác định bà Đặng Kim Q đã chuyển vào tài

khoản của bà Võ Thùy Tr số xxxxxxxxxxxx tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần

Sài Gòn Thương tín số tiền 390,000,000 (ba trăm chín mươi triệu) đồng. Theo

thỏa thuận, bà Võ Thùy Tr đã vay tiền của bà Đặng Kim Q nhưng không thực hiện

nghĩa vụ thanh toán là vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo luật định. Mặc dù Tòa án đã

triệu tập nhiều lần nhưng bà bà Võ Thùy Tr vẫn vắng mặt không lý do là đã từ

chối quyền, nghĩa vụ chứng minh, phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán một lần nợ gốc là có cơ sở chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem

xét tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa bà Đặng Kim Q và bà Võ

Thùy Tr là tranh chấp hợp đồng vay tài sản, theo Bảng kê giao dịch và các chứng từ giao dịch giữa bà Đặng Kim Q và bà Võ Thùy Tr của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – chi nhánh Nam Thành phố Hồ Chí Minh (gửi kèm công văn số 408/NHNoNPTNTPHCM-KTKSNB ngày 13/4/2021) – có cơ sở xác định bà Đặng Kim Q đã chuyển vào tài khoản của bà Võ Thùy Tr số xxxxxxxxxxxx tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương tín số tiền 390,000,000 (ba trăm chín mươi triệu) đồng. Địa chỉ của bà Võ Thùy Tr được xác nhận với bà Đặng Kim Q là: 453/2/8 Tân Hòa Đông, phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại thời điểm giải quyết vụ án, theo xác minh của Tòa án nhân dân quận Bình Tân tại Công an phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân thì bà Võ Thùy Tr có hộ khẩu thường trú tại số: 453/2/8 Tân Hòa Đông, phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng hiện nay đã bỏ đi đâu không rõ. Như vậy người khởi kiện được coi là đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện; người bị kiện thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong giao dịch, hợp đồng mà không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật dân sự năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ. Địa chỉ: 453/2/8 Tân Hòa Đông, phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh được xác định là nơi cư trú cuối cùng của bà Võ Thùy Tr. Do đó Toà án nhân dân quận Bình Tân tiếp tục giải quyết vụ kiện theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục tố tụng:

[2. 1] Do cá nhân bà Võ Thùy Tr vay tài sản của bà Đặng Kim Q, bà Đặng

Kim Q cũng chỉ khởi kiện yêu cầu bà Võ Thùy Tr trả tiền. Bà Võ Thùy Tr vắng mặt và không có yêu cầu gì trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đưa chồng bà Võ Thùy Tr (nếu có) vào tham gia tố tụng trong vụ án này với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; cũng như không xem xét trách nhiệm liên đới giữa bà Võ Thùy Tr và chồng bà Võ Thùy Tr (nếu có) để trả tiền cho bà Đặng Kim Q do không có đương sự nào yêu cầu.

[2. 2] Bà Đặng Kim Q chưa từng đăng ký kết hôn với ai cũng như không

chung sống như vợ chồng với bất cứ người nào nên số tiền 390,000,000 (ba trăm chín mươi triệu đồng) đã chuyển cho bà Võ Thùy Tr là tài sản của bà Đặng Kim Q, nay bà Đặng Kim Q yêu cầu bà Võ Thùy Tr trả tiền là có căn cứ chấp nhận.

[2. 3] Bị đơn là bà Võ Thùy Tr thay đổi địa chỉ cư trú nhưng không thông

báo cho nguyên đơn là bà Đặng Kim Q biết về nơi cư trú mới thì được coi là cố

tình giấu địa chỉ, cũng như không đến Tòa án để giải quyết vụ án theo quy định

của pháp luật, có nghĩa là bị đơn đã tự tước bỏ quyền phản đối yêu cầu của nguyên

đơn đối với mình, tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình, nên bị đơn phải

chịu hậu quả của việc cố tình giấu địa chỉ và không chứng minh theo quy định tại

điểm a khoản 1 Điều 40, Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Vì vậy, Hội

đồng xét xử căn cứ yêu cầu khởi kiện, lời khai của nguyên đơn và các tài liệu,

chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét giải quyết vụ án.

[2. 4] Bà Đặng Kim Q là nguyên đơn có đơn xin vắng mặt; bà Võ Thùy Tr

là bị đơn vắng mặt không có lý do, căn cứ vào quy định tại điểm b khoản 2 Điều

227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng

xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về nội dung vụ án:

[3. 1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Tại thời điểm giao dịch vay tài sản, bà Đặng Kim Q và bà Võ Thùy Tr có đầy đủ

năng lực hành vi dân sự, hai bên giao dịch vay tài sản nói trên là hoàn toàn tự

nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội nên đây là giao dịch hợp pháp làm

phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.

[3. 2] Bà Võ Thùy Tr mặc dù đã được Tòa án tống đạt, niêm yết các văn bản

tố tụng của Tòa án hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ

án, cũng như không gửi chứng cứ, tài liệu nào phản đối yêu cầu khởi kiện, tài liệu,

chứng cứ của bà Đặng Kim Q hoặc thể hiện bà Võ Thùy Tr đã trả nợ cho bà Đặng

Kim Q nên chứng cứ bà Đặng Kim Q giao nộp cho Tòa án là chứng cứ không phải

chứng minh.

[3. 3] Hội đồng xét xử căn cứ vào lời khai của nguyên đơn; các tài liệu,

chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết luận: bà Võ Thùy Tr nợ bà Đặng Kim Q

390,000,000 (ba trăm chín mươi triệu) đồng. Bà Đặng Kim Q đã chuyển cho bà

Võ Thùy Tr vay số tiền 390,000,000 (ba trăm chín mươi triệu) đồng nhằm mục

đích để bà Võ Thùy Tr sửa chữa căn nhà 453/2/8 Tân Hòa Đông, phường Bình Trị

Đông, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh để sau đó chuyển nhượng cho bà

Đặng Kim Q, bà Võ Thùy Tr đã nhận được tiền vay nhưng không thực hiện nghĩa

vụ theo thỏa thuận với bà Đặng Kim Q cũng như không trả lại cho bà Đặng Kim Q

số tiền đã nhận, do đó yêu cầu đòi lại tài sản cho vay của bà Đặng Kim Q là có căn

cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3. 3] Hội đồng xét xử thấy rằng đây là hợp đồng vay tài sản không kỳ hạn,

không có lãi, trước khi Tòa án thụ lý đơn khởi kiện của bà Đặng Kim Q, bà Đặng

Kim Q đã gửi thông báo cho bà Võ Thùy Tr yêu cầu trả lại số tiền đã vay trong

thời gian hợp lý nhưng bà Võ Thùy Tr vẫn không có phản hồi nào do đó yêu cầu

bà Võ Thùy Tr phải trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật cho bà Đặng

Kim Q số tiền 390,000,000 (ba trăm chín mươi triệu) đồng là có căn cứ, được Hội

đồng xét xử chấp nhận.

Đối với ý kiến phát biểu tại phiên tòa của đại diện Viện Kiểm sát nhân

dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh thấy rằng, các ý kiến và đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về hình thức và nội dung là phù hợp quy định của pháp luật, nên chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Đặng Kim Q thuộc trường hợp được miễn nộp án phí/tạm ứng án phí.

Bà Võ Thùy Tr phải nộp án phí tính trên tổng số tiền 390,000,000 (Ba trăm

chín mươi triệu) đồng phải trả cho bà Đặng Kim Q, án phí tính được là: 19,500,000 (Mười chín triệu, năm trăm nghìn) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,

Điều 91, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 278 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 40, Điều 357, Điều 401, Điều 463, Điều 466, Điều 469 của Bộ

luật Dân sự năm 2015.

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban

thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ vào Luật Thi hành án Dân sự.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Kim Q: bà Võ Thùy Tr

phải trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật cho bà Đặng Kim Q số tiền 390,000,000 (ba trăm chín mươi triệu) đồng nợ gốc theo Bảng kê giao dịch và các chứng từ giao dịch giữa bà Đặng Kim Q và bà Võ Thùy Tr của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – chi nhánh Nam Thành phố Hồ Chí Minh (gửi kèm công văn số 408/NHNoNPTNTPHCM-KTKSNB ngày 13/4/2021).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bà Đặng Kim Q cho đến khi thi

hành xong, bà Võ Thùy Tr còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

2.1. Bà Đặng Kim Q thuộc trường hợp được miễn nộp án phí/tạm ứng án

phí.

2.2. Bà Võ Thùy Tr phải nộp 19,500,000 đồng (Mười chín triệu, năm trăm

nghì đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

3. Quyền và thời hạn kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có quyền kháng

cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Viện Kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân

sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành

án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi

hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30

Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ