vanban.org

Bản án 172/2018/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Kiên Giang Tuyên án 06/09/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/09/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo; sửa bản án sơ thẩm.

Áp dụng: điểm b khoản 3 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Mai H 05 (năm) năm tù về tội “Vận chuyển hàng cấm”. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án, được khấu trừ thời gian tạm g… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Hải - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo; sửa bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 173/2018/HS-PT
Ngày: 06-9-2018.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Quốc Chiến

Các Thẩm phán: Ông Lê Trọng Hân

Ông Võ Văn Lịnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Tiên – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Thùy– Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 132/2018/TLPT-HS ngày 26 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo Mai H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2018/HS-ST ngày 19/6/2018 của Tòa án nhân dân thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.

- Bị cáo có kháng cáo:

Bị cáo Mai H, sinh năm 1971 tại Kiên Giang. Nơi cư trú: ấp T, xã T1, huyện C, tỉnh Kiên Giang; trình độ văn hóa: 4/12; nghề nhiệp: không; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; con ông Mai Đ và bà Thị C (chết); vợ Thị H2; con có 02 người con, lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 1997; tiền án ,tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/02/2018 đến 15/02/2018 bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 09/02/2018 H và T2 được một người đàn ông thuê đi chở thuốc lá nhập lậu từ H3 về R với tiền công là 500.000 đ/chuyến/người. Khoảng 11 giờ cùng ngày, người đàn ông trên kêu H và T2 đến khu vực chợ T3, thuộc phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang để đi chở hàng, đến nơi H và T2 được giao một chiếc vỏ loại Composite màu trắng – xanh có gắn máy nổ Toyota (loại máy xe) để đi H3 chở thuốc lá nhập lậu. H và T thay nhau điều khiển vỏ đi bằng đường sông kênh R – H3 theo hướng dẫn qua điện thoại của người đàn ông đã thuê. Khi đến H3 H, T2 chạy vỏ ra biển, đến khu vực biển Mũi Nai giáp vùng biển Campuchia thì có 02 người đàn ông điều khiển vỏ đến giao 30 bao tải và thùng catton bên trong có chứa thuốc lá ngoại nhập lậu. Sau khi nhận thuốc xong H và T2 thay nhau điều khiển vỏ chạy về hướng R, khi đến vùng biển thuộc phường P, thị xã H3 thì bị lực lượng Bộ Tư lệnh vùng Cảnh sát biển 4 kiểm tra phát hiện trên vỏ có 17.500 bao thuốc lá điếu nhập lậu các loại, gồm: 13.000 bao thuốc lá hiệu Hero, 3000 bao thuốc lá hiệu Ram, 1.500 bao thuốc lá hiệu Jet nên đã đưa Mai H và Lý Văn T2 cùng tang vật về trụ sở Công an phường P, thị xã H3 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ toàn bộ số tang vật và chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã H3 để điều tra làm rõ.

Tang vật thu giữ:

1) 01 vỏ lãi làm bằng Composite, màu trắng – xanh, dài 13, rộng 1.2m, cao 1m; có gắn máy nổ hiệu Toyota, loại 200CV (đã qua sử dụng);

2) 13.000 (Mười ba ngàn) bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero;

3) 3.000 (Ba ngàn) bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Ram;

4) 1.500 (Một ngàn năm trăm) bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Jet;

5) 01 điện thoại di động hiệu NOKIA (đã qua sử dụng);

6) 01 điện thoại di động hiệu OPPO (đã qua sử dụng);

7) 01 điện thoại di động hiệu ZIP (đã qua sử dụng);

Vật chứng số 1,2,3,4 và 7 hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự thị xã H3; vật chứng 5 và 6 đã được trả lại cho chủ sở hữu là Mai H và Lý Văn T2 theo Quyết định xử lý vật chứng số 635 ngày 08/5/2018 của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã H3.

Tại Bản án sơ thẩm số: 14/2018/HSST ngày 19/6/2018 Tòa án nhân dân thị xã H3, tỉnh Kiên Giang:

Tuyên bố: Bị cáo Mai H, Lý Văn T2 phạm tội: “Vận chuyển hàng cấm”.

Áp dụng: điểm b khoản 3 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Mai H 06 (sáu) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 10/02/2018 đến ngày 15/02/2018.

Xử phạt bị cáo Lý Văn T2 06 (sáu) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/02/2018.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và báo quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 20/6/2018, bị cáo Mai H có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt với lý do: hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân bị bệnh lao mất sức lao động, cuộc sống nghèo khó, người dân tộc nên nhận thức pháp luật hạn chế.

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b Khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, chấp nhận kháng cáo của bị cáo vì bị cáo có cha ruột là người có công cách mạng, tham gia kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, chiến tranh bảo vệ tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế. Nên giảm cho bị cáo một phần hình phạt, xử bị cáo Mai H 05 năm tù. Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đồng ý với ý kiến của Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo:

Xét đơn kháng cáo của bị cáo Mai H về nội dung, quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo đã đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.

Về quyết định của bản án sơ thẩm:

Ngày 09/02/2018, bị cáo H và T2 được một người đàn ông thuê đi chở thuốc lá lậu tại khu vực biển Mũi Nai giáp vùng biển Campuchia, trên đường về bị lực lượng Bộ Tư lệnh vùng Cảnh sát biển 4 kiểm tra phát hiện trên vỏ có 17.500 bao thuốc lá điếu nhập lậu các loại, gồm: 13.000 bao thuốc lá hiệu Hero, 3000 bao thuốc lá hiệu Ram, 1.500 bao thuốc lá hiệu Jet. Do vậy Tòa án nhân dân thị xã Hà Tiên đã xử phạt bị cáo Mai H về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm b khoản 3 Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Về yêu cầu kháng cáo của bị cáo:

Sau khi xét xử sơ thẩm xong bị cáo Mai H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. HĐXX thấy rằng hành vi vận chuyển thuốc lá lậu với số lượng lớn của bị cáo không những gây ảnh hưởng xấu đến trật tự quản lý kinh tế về các hàng hóa xuất, nhập khẩu mà còn gây thất thoát trong việc quản lý thuế của nhà nước ta, tác động xấu đến giá cả thị trường, đồng thời còn làm phức tạp thêm tình hình kiểm soát hàng hóa tại vùng biên giới nước ta hiện nay, gây khó khăn cho công tác phòng chống tội phạm. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và xử phạt bị cáo H 06 năm tù là phù hợp. Tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo cung cấp thêm Quyết định của cha bị cáo có công với cách mạng, tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chiến tranh bảo vệ tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế. Nên có cơ sở để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và chấp nhận lời đề nghị của vị đại diện viện kiểm sát, sửa bản án sơ thẩm.

Về quan điểm của vị Viện kiểm sát: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, là có căn cứ chấp nhận.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử đã thảo luận và thấy rằng các Quyết định của bản án sơ thẩm về tội danh và mức hình phạt cho bị cáo Mai H là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo cung cấp thêm tình tiết mới nên Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận quan điểm đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm đã tuyên.

Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ Luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo; sửa bản án sơ thẩm.

2. Áp dụng: điểm b khoản 3 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Mai H 05 (năm) năm tù về tội “Vận chuyển hàng cấm”. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 10/02/2018 đến ngày 15/02/2018.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

Bị cáo Hải không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm số 14/2018/HSST ngày 19/6/2018 Tòa án nhân dân thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ