- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Phạm Minh T phạm tội "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Minh T, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 104 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 172/2017/HSPT Ngày: 16/8/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thế Cẩm
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quốc Thiện
Bà Nguyễn Thị Hòa
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Việt Hà, Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 16 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 128/2017/HSPT ngày 07 tháng 7 năm 2017 đối với bị cáo Phạm Minh T. Do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 25/2017/HSST ngày 23 tháng 5 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Quảng Nam.
Bị cáo có kháng cáo: Phạm Minh T, sinh ngày 07 tháng 6 năm 1997; trú tại: thôn A, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam; trình độ văn hóa: lớp 9/12; nghề nghiệp: làm biển; con ông Phạm Minh T, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1971; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 19/12/2016, đến ngày 24/01/2017 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21h ngày 15/10/2016, anh Nguyễn Thanh T cùng với Phạm Xuân N đi ăn trứng lộn ở quán trước chợ T. Sau đó, N đi qua quán cà phê “Xóm” ở gần đó để tìm người quen, gặp Nguyễn Phú Q, tên thường gọi là Bảy Đ và Trần Minh H đang uống cà phê, N hỏi Q: “Bảy Đ, mi có thấy thằng P mô không?”, nghe vậy, H nói “Nó lớn rồi sao gọi là Bảy Đ” thì H và N xích mích thì được mọi người can ngăn. T và N lấy xe đi về, đến trước Lăng Ô thì gặp Q đang ngồi chơi cùng với Phạm Minh T; Dương Văn C, Nguyễn Công Q, Bùi Ngọc N, Lê Văn D. Khi gặp Q thì N có nói “Tao với mày quen biết, tao gọi Bảy Đ sao mày để bạn mày đánh tao”, nghe vậy, Thuần đứng dậy đến đôi co thì giữa Minh T và T phát sinh mâu thuẫn. Minh T dùng tay đánh T, sau đó chạy đến đống gạch gần đó cầm một cục gạch ống sáu lỗ xông vào đánh T thì được bạn bè can ngăn. T bỏ chạy đến trước hiên nhà bà Phan Thị N cầm một cái cây lau nhà và đứng ở đó. Thấy vậy, Minh T cầm cục gạch ống sáu lỗ đuổi theo, D, C cũng lượm gạch chạy theo sau. Khi còn cách chỗ T đứng khoảng 10 đến 15 mét thì Minh T cầm một cục gạch bằng tay phải ném mạnh trúng vào đầu của T. D cũng cầm gạch ném về phía T nhưng không trúng, C cũng có cầm gạch trên tay nhưng không ném. Sau đó, Minh T được mọi người can ngăn đưa về nhà, người dân ở gần đó đưa T đi cấp cứu.
Bản giám định thương tích số 295/GĐPY.16 ngày 24/10/2016 của Trung tâm pháp y tỉnh Quảng Nam kết luận tỷ lệ thương tích của Nguyễn Thanh T là 29 %.
Với nội dung vụ án như trên, tại bản án hình sự sơ thẩm số 25/2017/HSST ngày 23/5/2017 của Tòa án nhân dân huyện N đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Phạm Minh T phạm tội: “Cố ý gây thương tích ”.
Áp dụng: khoản 2 Điều 104; điểm b, p khoản 1 khoản 2 Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Minh T 12 (Mười hai) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án, được khấu trừ 36 (Ba sáu) ngày tạm giam (từ ngày 19/12/2016 đến ngày 24/01/2017).
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về quyền án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 25/5/2017, bị cáo Phạm Minh T kháng cáo về phần hình phạt xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam có quan điểm về giải quyết vụ án: Hành vi dùng gạch là hung khí nguy hiểm ném vào đầu người bị hại gây thương tích với tỷ lệ 29% của bị cáo Phạm Minh T, nên bị Tòa án cấp sơ thẩm kết án và xử phạt 12 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 104 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm, người bị hại tiếp tục có đơn xin khoan hồng và bị cáo có nhân thân tốt; đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm và giảm về hình phạt.
Bị cáo không tranh luận, xin được hưởng án treo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo;
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Phạm Minh T khai nhận: Vào khoảng 21 giờ ngày 15/10/2016, tại thôn A, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam, bị cáo đã có hành vi dùng gạch ném vào đầu anh Nguyễn Thanh Tuấn gây thương tích.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, kết luận giám định thương tích và các tài liệu, chứng cứ được chứng minh có tại hồ sơ vụ án; Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Từ một mâu thuẫn nhỏ nhưng bị cáo đã có hành vi dùng gạch (là hung khí nguy hiểm) ném vào đầu người bị hại Nguyễn Thanh T, gây thương tích với tỷ lệ 29% nên bản án hình sự sơ thẩm số 25/2017/HSST ngày 23/5/2017 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Quảng Nam đã kết án bị cáo Phạm Minh T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 2 Điều 104 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo thì thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá đúng tính chất của vụ án, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; áp dụng đầy đủ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; áp dụng thêm Điều 47 của Bộ luật Hình sự để làm căn cứ xử phạt bị cáo Phạm Minh T 01 năm tù, mức án thấp dưới khung hình phạt quy định là có cơ sở. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị hại tiếp tục có đơn xin khoan hồng cho bị cáo, bị cáo không có tình tiết tăng nặng và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, tuổi đời còn trẻ, phạm tội lần đầu, nơi cư trú cụ thể và rõ ràng, đã có thời gian bị tạm giam; xét không nhất thiết phải tiếp tục cách ly bị cáo ra ngoài xã hội mà giao về chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát và giáo dục là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt theo hướng giữ nguyên mức án 01 năm tù và áp dụng thêm Điều 60 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo được hưởng án treo, thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội.
Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 248; điểm đ khoản 1 Điều 249 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
QUYẾT ĐỊNH:
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Minh T, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt.
Áp dụng: khoản 2 Điều 104; điểm b, p khoản 1 khoản 2 Điều 46; Điều 47 và Điều 60 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Minh T 01 (Một) năm tù, về tội “Cố ý gây thương tích”, nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 02 (Hai) năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 16/8/2017).
Giao bị cáo Phạm Minh T về Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam để có trách nhiệm giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án Hình sự.
Bị cáo Phạm Minh T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 16/8/2017.
| Nơi nhận: - Các cơ quan tiến hành TT; - Người tham gia TT; - Phòng PV 27 CA Q.Nam; - P.HSNV Sở tư pháp Q Nam; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu Tòa hình sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký và đóng dấu) Trần Thế Cẩm |