- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Căn cứ chính? Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN Quy định về hoạt động cho vay củ…; Điều 1 Thông tư số 12/2010/TT-NHNN Hướng dẫn tổ chức tín dụng cho v…; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1710/2023/DS-ST Ngày: 31/8/2023 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Trang
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Nhơn
Ông Trần Văn Phủ
- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Xuân Tùng – Thư ký Toà án nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 8 năm 2023 tại phòng xử án của Toà án nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 0511/2021/TLST-DS ngày 08 tháng 4 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 399/2023/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 316/2023/QĐST-DS ngày 11/8/2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần T
Trụ sở: 266-268 đường N, Phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Quốc T, sinh năm 1989
Địa chỉ: 415-417 Phạm Văn C, Phường B, quận V, Thành phố Hồ Chí Minh.
Giấy ủy quyền số 13/2021/GUQ-PGDTNXM ngày 04/11/2021.
2. Bị đơn: Ông Phạm Duy Anh T, sinh năm 1998
Địa chỉ: 12/3 L, Phường Y, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện nộp ngày 19/3/2021 và lời trình bày của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, ông Lê Quốc T tại bản tự khai và các biên bản hòa giải:
Ngân hàng TMCP T (Từ sau đây viết tắt là “Ngân hàng”) và ông Phạm Duy Anh T có ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 29/7/2019 và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng. Sau khi ký hợp đồng, căn cứ thu nhập của ông T, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng Visa Paywave Credit Gold số 472075-1644, hạn mức sử dụng là: 50.000.000đồng, mục đích tiêu dùng. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông T đã thực hiện giao dịch với tổng số tiền là: 104.810.000 đồng. Ông T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán kể từ kỳ thanh toán ngày 22/12/2019, nguyên đơn đã nhiều lần đôn đốc, nhắc nhở nhưng ông T vẫn không thanh toán theo quy định. Do ông Phạm Duy Anh T vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Điều 2 của Bản điều khoản nên từ ngày 22/3/2020 nên Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ Visa Paywave Credit Gold số 472075-1644 của ông T và chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn. Tạm tính đến ngày 24/10/2022, ông Phạm Duy Anh T còn nợ số tiền là: 133.247.723 đồng. Bao gồm:
- Vốn gốc: 59.757.713 đồng.
- Lãi quá hạn: 73.490.010 đồng. Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc ông Phạm Duy Anh T thanh toán toàn bộ số vốn gốc và lãi phát sinh từ ngày 25/10/2022 theo lãi suất thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 29/7/2019 và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng. Án phí do ông T chịu. * Bị đơn Ông Phạm Duy Anh T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý, giấy triệu tập để lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm nhưng Ông T vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu trong đơn khởi kiện và không bổ sung chứng cứ nào khác, yêu cầu Tòa án buộc bị đơn, ông Phạm Duy Anh T phải trả số tiền nợ tạm tính đến ngày 31/8/2023 là: 157.407.758 đồng. Bao gồm: Nợ gốc: 59.757.713 đồng và nợ lãi: 97.650.045 đồng. Lãi tiếp tục phát sinh từ ngày 01/9/2023 theo mức lãi suất thỏa thuận cho đến khi ông T thực trả hết toàn bộ số nợ. Yêu cầu thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật và ông T phải chịu tiền án phí. * Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng trong vụ án: Nguyên đơn và đại diện nguyên đơn từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay đã thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71, Điều 85, Điều 86 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay chưa thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Xét hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, bảng kê chi tiết lịch sử thanh toán của ông Phạm Duy Anh T, có cơ sở xác định Ông T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ. Căn cứ khoản 2 Điều 91, Điều 95 và điểm d khoản 3 Điều 98 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về án phí sơ thẩm: Bị đơn phải đóng án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn khởi kiện Ông T - có địa chỉ cư trú cuối cùng tại 12/3 L, Phường Y, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh - đối với việc sử dụng và thanh toán thẻ tín dụng thì đây là quan hệ hợp đồng tín dụng. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về thủ tục xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng: Tòa án đã tiến hành thủ tục niêm yết hợp lệ triệu tập Ông T để lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa sơ thẩm lần thứ nhất ngày 11/8/2023 và phiên tòa hôm nay nhưng Ông T vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án:
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hôm nay, Ông T không có mặt để trình bày lời khai và cung cấp tài liệu, chứng cứ mặc dù Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết.
Theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng Ông T đã ký ngày 29/7/2019 có nội dung đề nghị Ngân hàng cấp thẻ tín dụng và ngày 31/7/2019 được Ngân hàng phê duyệt hạn mức thẻ là 50.000.000 đồng. Ông T cũng xác nhận đã đọc và đồng ý bị ràng buộc nghĩa vụ và chịu trách nhiệm bởi bản Điều khoản và điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng là Đơn vị phát hành thẻ (sau đây gọi là bản Điều khoản). Nội dung Giấy đề nghị cấp thẻ nêu trên phù hợp với quy định tại điểm d khoản 3 Điều 98 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 nên có hiệu lực pháp luật.
Theo tóm tắt sao kê, từ ngày 22/12/2019 cho đến nay, Ông T không thanh toán bất kỳ khoản nợ nào cho Ngân hàng là Ông T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Điều 23 của bản Điều khoản, ngày 22/3/2020 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn với số nợ gốc là 59.757.713 đồng.
Theo Quyết định số 2399/2019/QĐ-TTT ngày 06/8/2019 của Ngân hàng, lãi suất thẻ tín dụng cá nhân là 2,6%/tháng. Cho đến nay, Ngân hàng không thay đổi mức lãi suất này. Tại Điều 23 bản Điều khoản áp dụng mức lãi suất quá hạn là 150% mức lãi suất công bố áp dụng tại thời điểm hiện tại. Ngân hàng đã áp dụng mức lãi suất quá hạn là 150% lãi suất thẻ. Căn cứ Điều 1 của Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng nhà nước, Khoản 4 Điều 13 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng nhà nước, lãi suất Ngân hàng áp dụng là phù hợp với quy định pháp luật.
Xét yêu cầu của Ngân hàng, yêu cầu Ông T trả toàn bộ số tiền 157.407.758 đồng tạm tính đến ngày 31/8/2023 cụ thể: Nợ gốc là 59.757.713 đồng, nợ lãi quá hạn là 97.650.045 đồng. Ngoài ra kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, Ông T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quá hạn thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 29/7/2019. Thanh toán ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Căn cứ khoản 2 Điều 91, Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Điều 13, 20, 21 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng nhà nước, khi ông T không thanh toán đầy đủ tiền nợ gốc và lãi đúng hạn theo thỏa thuận, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ tín dụng nêu trên, chuyển sang nợ quá hạn và tính lãi quá hạn là phù hợp. Đồng thời căn cứ điểm a khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. [4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Ông T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 7.870.388 đồng. Ngân hàng TMCP T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được trả lại số tiền tạm ứng án phí là 1.494.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí toà án số AA/2019/0089502 ngày 05/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 2 Điều 91, Điều 95 và điểm d khoản 3 Điều 98 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;
- Căn cứ Điều 1 của Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng nhà nước;
- Căn cứ Khoản 4 Điều 13 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng nhà nước;
- Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014), 1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần T. Ông Phạm Duy Anh T có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần T số tiền 157.407.758 (Một trăm năm mươi bảy triệu bốn trăm linh bảy ngàn bảy trăm năm mươi tám) đồng tạm tính đến ngày 31/8/2023. Cụ thể: Nợ gốc là 59.757.713 đồng, nợ lãi quá hạn là 97.650.045 đồng phát sinh từ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 29/7/2019. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông Phạm Duy Anh T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 29/7/2019.
Thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Phạm Duy Anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 7.870.388 (Bảy triệu tám trăm bảy mươi ngàn ba trăm tám mươi tám) đồng. Nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được trả lại số tiền tạm ứng án phí là 1.494.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí toà án số AA/2019/0089502 ngày 05/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3.Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông Phạm Duy Anh T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh được quyền kháng nghị trong hạn 15 ngày, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh được quyền kháng nghị trong hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND TP. HCM; - VKSND Q. B; - THADS Q. B; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, VP. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Kiều Trang |