vanban.org

Bản án 171

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Thân Nguyễn Lâm G phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Thân Nguyễn Lâm G 09 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành án cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh K nhận được quyết định thi hành án. Giao bị cáo Thân Nguyễn Lâm G cho Ủy ban nhân dân phường N, tỉnh Khánh Hòa giám sát, giáo dục trong…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Thân Nguyễn Lâm G - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Thân Nguyễn Lâm G phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

KHU VỰC 1 – KHÁNH HÒA

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Bản án số: 171/2026/HS-ST Ngày: 03/6/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - TỈNH KHÁNH HÒA

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Cát Hoàng Trân

Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Tây

Bà Nguyễn Thị Xuân Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Hà – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 – Khánh Hòa.

- Đại diện Viện sát nhân dân khu vực 1 – Khánh Hòa tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Minh T – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 6 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 – Khánh Hòa mở phiên tòa công khai để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 165/2026/TLST-HS ngày 06/5/2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 166/2026/QĐXXST-HS ngày 19/5/2026 đối với bị cáo:

THÂN NGUYỄN LÂM G, sinh ngày 16/3/2009, tại Khánh Hòa; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: 8 đường T, phường N, tỉnh Khánh Hòa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 10/12 Nghề nghiệp: Không; Cha: Thân C (sinh năm 1971) Mẹ: Nguyễn Thị T1 (sinh năm: 1984); Tiền án tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Bà Hồ Thị Cẩm C, sinh năm 1987;

Địa chỉ: S.08 đường số A, khu đô thị L, phường N, tỉnh Khánh Hòa; Vắng mặt

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Phạm Minh T2 – Công ty L1. Có mặt

Đại diện theo pháp luật: Ông Thân Cao S - sinh năm 1971 (cha ruột của Thân Nguyễn Lâm G); Có mặt

* Người làm công tác xã hội: Bà Lê thị Thanh T3 – Cộng tác viên phụ trách trẻ em thuộc Ủy ban nhân dân phường N, tỉnh Khánh Hòa, Có mặt

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Nguyễn Đức T4 – sinh năm 2009

Đại diện hợp pháp của em T4 đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Đức T5 – sinh năm 1984 (cha ruột Nguyễn Đức T4)

Cùng địa chỉ: số B đường T, phường N, tỉnh Khánh Hòa. Có đơn xin xét xử vắng mặt

- Bà Trần Thị Hoàng P – sinh năm 1980

Địa chỉ: căn hộ S chung cư C, phường N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ tháng 7-8/2025, Thân Nguyễn Lâm G (sinh ngày 16/3/2009) và Nguyễn Đức T4 (sinh ngày 31/12/2009) lợi dụng việc người dân đi tắm biển để xe máy và tài sản trên vỉa hè dọc bờ biển trên các khu vực đường P, phường B và đường T, phường N, tỉnh Khánh Hòa để thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản, cụ thể:

Vụ 1. Khoảng 17 giờ ngày 05/7/2025, Thân Nguyễn Lâm G cùng Nguyễn Đức T4 điều khiển 01 xe máy hiệu Cub Thai Lan, biển kiểm soát 79NA – 025.43 đến khu vực công viên bờ biển đường T, đoạn đối diện đường N, phường N, tỉnh Khánh Hòa phát hiện 01 xe máy hiệu Yamaha Sirius, màu đen-xám, biển kiểm soát 38K1 - 396.29 của bà Hồ Thị Cẩm C dựng trên vỉa hè để đi tắm biển, không người trông giữ. Thấy vậy, T4 lén lút đi đến đẩy xe máy xuống đường, ngồi lên xe Sirius để G điều khiển xe máy Cup dùng chân đẩy đến đường B phường B thuê thợ mở khóa xe máy. Sau đó, T4 đem xe máy này bán cho người có tên “Phùng Thanh” không rõ lai lịch được 1.000.000 đồng.

Vụ 2. Khoảng 17 giờ 14/7/2025 T4 và G đến khu vực bờ biển đường P, đối diện đường Đ, phường B trộm cắp một chiếc xe máy hiệu Honda Dream màu đen (chưa rõ chủ sở hữu). Sau đó, T4 đăng trên mạng xã hội Facebook bán xe máy này cho 01 người không rõ lai lịch với giá 1.500.000 đồng.

Vụ 3. Khoảng 17 giờ 15/7/2025 T4 và G đến khu vực bờ biển đường P, đối diện đường Đ, phường B trộm cắp một chiếc xe máy hiệu Honda Honda Airblade màu trắng (chưa rõ chủ sở hữu). Sau đó, T4 đăng trên mạng xã hội Facebook bán xe máy này cho 01 Nguyễn Hữu Thành L (chưa rõ lai lịch) với giá 3.000.000 đồng.

Ngoài ra Nguyễn Đức T4 và Nguyễn Lê Huy H cùng nhau thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản khác, cụ thể:

Vụ 1. Khoảng 17 giờ ngày 23/7/2025, tại khu vực bờ biển đường Phạm Văn Đồng giao nhau với đường Đ, phường B, tỉnh Khánh Hòa, T4 và H trộm cắp được 01 chiếc xe máy Yamaha Jupiter FI màu bạc-đen, biển kiểm soát 59M2-629.84 của anh Huỳnh Văn H1.

Vụ 2. Khoảng 17 giờ ngày 27/7/2025, tại khu vực bờ biển đường Phạm Văn Đồng, đối diện khách sạn T7, số F đường P, phường B, tỉnh Khánh Hòa, T4 và H đã lấy trộm 02 chiếc xe máy hiệu Honda Winner màu đen và xe Honda Air Blade màu xám – đen (chưa rõ chủ sở hữu).

Vụ 3. Chiều ngày 28/7/2025, tại khu vực bờ biển đường Phạm Văn Đồng, đối diện khách sạn T7, số F đường P, phường B, tỉnh Khánh Hòa, T4 và H đã trộm cắp 01 chiếc xe máy hiệu Honda Air Blade màu trắng và 01 xe máy Wave Alpha màu đen (chưa rõ chủ sở hữu).

Vụ 4. Khoảng 16 giờ 30, ngày 29/7/2025, tại Công viên bờ biển đường T, phường N, tỉnh Khánh Hòa, T4 và H trộm cắp 01 xe gắn máy hiệu VIET THAI, kiểu SirusVT, loại xe 50CC, có số máy: 703394, số khung 003394 của ông Nguyễn Vĩnh H2.

Vụ 5. Khoảng 16 giờ 20 phút ngày 29/7/2025, tại khu vực bãi biển Đ giao nhau với đường Đ, phường B, tỉnh Khánh Hòa, T4 và H đã trộm cắp 01 xe máy hiệu Honda Vision biển kiểm soát 66M1-279.17 của anh Hà Tuấn H3.

Vụ 6. Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 30/7/2025, tại khu vực bãi biển Đ giao nhau với đường Đ, phường B, tỉnh Khánh Hòa, T4 và H đã trộm cắp 01 xe máy hiệu Honda Airblade biển kiểm soát 79N2-066.96 của khách sạn M cho anh Nguyễn Khắc D thuê để đi tắm biển, trong cốp xe anh D có để 01 điện thoại di động hiệu Iphone13 Pro Max 256gb và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 64gb.

Vụ 7. Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 01/8/2025, tại khu vực bãi biển trước khách sạn T8, số I đường P, phường B, tỉnh Khánh Hòa, T4 và H đã trộm cắp 01 xe máy hiệu Honda Wave RSX biển kiểm soát 79N1-331.44 bà Đoàn Thị H4.

Vụ 8. Khoảng 17 giờ 20 ngày 01/08/2025, tại khu vực bờ biển đường T, phường N, tỉnh Khánh Hòa, T4 và H trộm cắp 01 xe máy Yamaha Sirius màu đỏ-đen biển kiểm soát 79D1–227.81 của chị Trần Thị Kim Y.

Vụ 9. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 01/8/2025, Tổ công tác của Công an phường B đang đi tuần tra tại khu vực trước nhà số G đường N, phường B, tỉnh Khánh Hòa thì phát hiện Nguyễn Đức T4 có biểu hiện nghi vấn nên đến kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, T4 khai nhận đã cùng Nguyễn Lê Huy H và T6 Nguyễn Lâm G thực hiện các vụ trộm cắp tài sản nêu trên.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTS ngày 28/01/2026 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân phường B kết luận: 01 xe máy hiệu Yamaha Sirius, màu đen-xám, biển kiểm soát 38K1-396.29 có giá trị 6.300.000 đồng.

Đồ vật, tài liệu bị tạm giữ:

- 01 xe máy hiệu Cub Thai Lan, biển kiểm soát 79NA – 025.43, số máy 33000538, số khung 000538;

Cáo trạng số 10/CT-VKSKV1 ngày 15/4/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Thân Nguyễn Lâm Giang về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa

Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm được quay về với gia đình.

Đại diện hợp pháp của bị cáo không có ý kiến gì.

Người bào chữa cho bị cáo và người làm công tác xã hội trình bày: Thống nhất với nội dung bản Cáo trạng và mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo G. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo để bị cáo có cơ hội sửa sai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Khánh Hòa thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự; Điều 118 Luật tư pháp người chưa thành niên đối với bị cáo Thân Nguyễn Lâm G. Xử phạt bị cáo G từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh K, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng được quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng hồ sơ vụ án đã có lời khai. Xét thấy, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, theo quy định tại Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Căn cứ Điều 55 của Luật tư pháp người chưa thành niên. Xét thấy, không có cơ sở để xem xét áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng theo quy định tại Điều 35, Điều 37, Điều 38 và Điều 39 của Luật tư pháp người chưa thành nên Hội đồng xét xử không xem xét áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng đối với bị cáo Thân Nguyễn Lâm G mà tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Về tội danh và khung hình phạt:

Tại phiên tòa, bị cáo G thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, cũng như qua phần tranh tụng, tranh luận công khai tại phiên tòa, có đủ căn cứ để xác định: Khoảng 17 giờ ngày 05/7/2025, tại khu vực công viên bờ biển đường T, đoạn đối diện đường N, phường N, tỉnh Khánh Hòa, Thân Nguyễn Lâm G và Nguyễn Đức T4 đã lén lút trộm cắp 01 xe máy hiệu Yamaha Sirius, màu đen-xám, biển kiểm soát 38K1-396.29 có giá trị 6.300.000 đồng của bà Hồ Thị Cẩm C. Hành vi của bị cáo G đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự

Như vậy, Cáo trạng số 10/CT-VKSNT-HS ngày 15/4/2026 truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản đã lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho người dân, cũng như gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội để răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.

Tuy nhiên, quá trình điều tra truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo luôn có thái độ thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, trong vụ án bị cáo G cùng với Nguyễn Đức T4 thực hiện hành vi trộm cắp nhưng không được T4 chia tiền sau khi tiêu thụ tài sản, bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại và được bị hại làm đơn xin bãi nại giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cũng như những quy định chung của pháp luật đối với người dưới 18 tuổi để giảm cho bị cáo một phần hình phạt, thể hiện các nguyên tắc nhân đạo, công bằng của chính sách hình sự của Nhà nước.

Về căn cứ quyết định hình phạt:

Mức hình phạt do đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo Thân Nguyễn Lâm G là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ vừa nêu, bị cáo hiện là vị thành niên, có nơi cư trú rõ ràng, chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà xem xét áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo là phù hợp.

Về khấu trừ thu nhập: Bị cáo bị áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ,

theo quy định tại Điều 36 Bộ luật Hình sự phải khấu trừ thu nhập, tuy nhiên căn cứ Điều 118 Luật tư pháp người chưa thành niên nên miễn áp dụng khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

Vấn đề khác:

Nguyễn Đức T4 có hành vi cùng Thân Nguyễn Lâm G trộm cắp xe máy hiệu Yamaha Sirius, màu đen-xám, biển kiểm soát 38K1-396.29, vào thời điểm phạm tội ngày 05/7/2025, T4 chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (chưa đủ 16 tuổi) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh K Quyết định xử lý hành chính đối với T4.

Nguyễn Đức T4 và Thân Nguyễn Lâm G cùng nhau trộm cắp 02 xe máy hiệu Honda Dream màu đen và xe máy hiệu Honda Honda Airblade màu trắng. Hiện chưa xác minh được chủ sở hữu của 02 xe máy trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh K tiếp tục xác minh làm rõ, khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

Nguyễn Đức T4 và Nguyễn Lê Huy H cùng nhau trộm cắp xe máy xe máy Yamaha Jupiter FI màu bạc-đen, biển kiểm soát 59M2-629.84; xe máy hiệu Honda Winner màu đen; xe Honda Air Blade màu xám – đen; xe máy hiệu Honda Air Blade màu trắng; xe máy Wave Alpha màu đen; xe gắn máy hiệu VIET THAI, kiểu SirusVT; xe máy hiệu Honda Vision biển kiểm soát 66M1-279.17; 01 xe máy hiệu Honda Airblade biển kiểm soát 79N2-066.96; điện thoại di động hiệu Iphone13 Pro Max 256gb; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 4gb; xe máy hiệu Honda Wave RSX biển kiểm soát 79N1-331.44; xe máy Yamaha Sirius màu đỏ-đen biển kiểm soát 79D1–227.81. Tại thời điểm trộm cắp các xe máy này: T4 và H chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (chưa đủ 16 tuổi) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh K Quyết định xử lý hành chính đối với T4 và H. Đồng thời tiếp tục điều tra để xử lý theo quy định của pháp luật. Đối với các đối tượng đã mua tài sản do Nguyễn Đức T4 bán, hiện chưa xác minh được nhân thân lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh K tiếp tục xác minh làm rõ, khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa bị hại vắng mặt, tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị hại yêu cầu bồi thường số tiền 6.300.000 đồng. Xét, bị cáo là vị thành niên khi thực hiện hành vi phạm tội, theo quy định tại Điều 586, Điều 589 Bộ luật dân sự cần buộc ông Thân Cao S là cha ruột của bị cáo và bị cáo G cùng liên đới bồi thường cho bị hại. Ông S đã nộp số tiền 6.300.000 đồng vào cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa nhằm bồi thường khắc phục hậu quả nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan em T4, ông T5 có đơn xin xét xử vắng mặt và nguyện vọng của ông T5 muốn nhận lại tài sản là chiếc xe mà T4 và G đã sử dụng và không có yêu cầu gì khác. Xét đây là sản ông T5 mua hợp pháp nên cần trả lại cho ông T5

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình giải quyết vụ án cũng không có yêu cầu gì nên không xem xét

Về vật chứng vụ án:

- 01 xe máy hiệu Cub Thai Lan, biển kiểm soát 79NA – 025.43, số máy 33000538, số khung 000538; Xét đây là tài sản hợp pháp của ông T5 nên cần trả lại.

- Đối với biên lai thu số tiền 6.300.000 đồng ông Thanh Cao S1 nộp tại Thi hành dân sự tỉnh Khánh Hòa. Cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo và ông Thân Cao S liên đới nộp 315.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Thân Nguyễn Lâm G phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự; Điều 118 Luật tư pháp người chưa thành niên

Xử phạt bị cáo Thân Nguyễn Lâm G 09 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành án cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh K nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Thân Nguyễn Lâm G cho Ủy ban nhân dân phường N, tỉnh Khánh Hòa giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo.

Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Thân Nguyễn Lâm G.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584 ,Điều 585, Điều 586 và Điều 589 Bộ luật dân sự

Ông Thân Cao S và bị cáo T6 Nguyễn Lâm G liên đới bồi thường cho bà Hồ Thị Cẩm C số tiền 6.300.000 đồng.

Quy định chung: Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Trả lại cho ông T5 01 xe máy hiệu Cub Thai Lan, biển kiểm soát 79NA – 025.43, số máy 33000538, số khung 000538;

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 02/6/2026 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh K và Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa)

- Tiếp tục tạm giữ số tiền 6.300.000 đồng theo biên lai số 0000914 ngày 22/4/2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa để đảm bảo thi hành án.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTUQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án).

Bị cáo Thân Nguyễn Lâm G phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo G và ông Thân Cao S liên đới nộp 315.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp, người bào chữa cho bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kề từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ