vanban.org

Bản án 171/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Trần Thanh N. [1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Thanh N được ly hôn chị Nguyễn Thị Tú S. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thanh Nh"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 11 Luật Cư trú; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

KHU VỰC 11 - AN GIANG
Bản án số: 171/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 26 - 5 - 2026
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Phước Sang

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn Sáu

2. Ông Nguyễn Văn Trí

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Nhựt Huy - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 11 - An Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 - An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo - Kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 11 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 544/2025/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 12 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 142/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 166/2026/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 11 - An Giang, giữa:

1. Nguyên đơn: Anh Trần Thanh N, sinh ngày 01/01/1993; căn cước công dân số 094093005992, cấp ngày 11/8/2022;

Nơi cư trú: Ấp M, xã M, Thành phố Cần Thơ (có mặt).

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Tú S, sinh ngày 16/3/1999; căn cước công dân số 089199005844;

Đăng ký thường trú: Ấp M, xã N, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: Ấp M, xã N, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Trần Thanh N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Thanh N và chị Nguyễn Thị Tú S tự tìm hiểu, tiến đến hôn nhân năm 2017. Đến ngày 15/5/2017 thì anh Trần Thanh N và chị Nguyễn Thị Tú S đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (nay là Ủy ban nhân dân xã M, Thành phố Cần Thơ). Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà trọ ở phường T, Thành phố Hồ Chí Minh (trước đây là xã T, huyện T, tỉnh Bình Dương) (địa chỉ cụ thể thì anh Trần Thanh N không nhớ). Vợ chồng chung sống đến khoảng tháng 11/2022 thì phát sinh mâu thuẫn do chị Nguyễn Thị Tú S có tình cảm với người đàn ông khác, sau khi phát hiện chị Nguyễn Thị Tú S có tình cảm với người đàn ông khác thì anh Trần Thanh N đã bỏ phòng trọ và trở về quê ở địa chỉ ấp M, xã M, Thành phố Cần Thơ để sinh sống; vợ chồng sống ly thân từ tháng 11/2022 cho đến nay, kể từ khi sống ly thân, vợ chồng không liên lạc gì với nhau; ngoài ra không còn nguyên nhân nào khác. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, gia đình hai bên không có động viên hàn gắn tình cảm vợ chồng cho anh Trần Thanh N và chị Nguyễn Thị Tú S; bản thân anh Trần Thanh N cũng không cho chị Nguyễn Thị Tú S cơ hội để hàn gắn tình cảm vợ chồng nên vợ chồng không hàn gắn tình cảm được. Do tình cảm vợ chồng không còn nên anh Trần Thanh N yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị Tú S.

Về con chung: Anh Trần Thanh N và chị Nguyễn Thị T Sương có 01 (một) con chung tên Trần Nguyễn N1, sinh ngày 04/10/2018. Khi ly hôn, anh Trần Thanh N đồng ý để chị Nguyễn Thị Tú S được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Trần Nguyễn N1, sinh ngày 04/10/2018, anh Trần Thanh N không cấp dưỡng nuôi con; hiện nay do con chung sống với chị Nguyễn Thị Tú S.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Căn cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện: Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, Giấy khai sinh của con chung.

Bị đơn chị Nguyễn Thị Tú S vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa,

Anh Trần Thanh N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.

Chị Nguyễn Thị Tú S vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn sơ thẩm: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã làm đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Về nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Thanh N. Về quan hệ hôn nhân, anh Trần Thanh N được ly hôn với chị Nguyễn Thị Tú S. Về con chung, chị Nguyễn Thị Tú S được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Trần Nguyễn N1, sinh ngày 04/10/2018; anh Trần Thanh N không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Tại Biên bản xác minh ngày 01/4/2026 (BL: 15), hiện nay, chị Nguyễn Thị Tú S đang cư trú tại ấp M, xã N, tỉnh An Giang. Căn cứ Điều 11 Luật Cư trú, điểm a khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử xác định nơi cư trú của chị Nguyễn Thị Tú S tại ấp M, xã N, tỉnh An Giang để giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Anh Trần Thanh N khởi kiện yêu cầu được ly hôn đối với chị Nguyễn Thị Tú S là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Đồng thời, chị Nguyễn Thị Tú S (bị đơn) có nơi cư trú tại ấp M, xã N, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân Khu vực 11 - An Giang thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị Tú S đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng trong suốt quá trình chuẩn bị xét xử. Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị Tú S đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị Tú S.

Về nội dung vụ án:

Xét yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị Tú S của anh Trần Thanh N, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Anh Trần Thanh N cho rằng, anh Trần Thanh N và chị Nguyễn Thị Tú S tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Vợ chồng chung sống đến khoảng tháng 11/2022 thì phát sinh mâu thuẫn do chị Nguyễn Thị Tú S có tình cảm với người đàn ông khác nên vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, gia đình hai bên không có động viên hàn gắn tình cảm vợ chồng cho anh Trần Thanh N và chị Nguyễn Thị Tú S; bản thân anh Trần Thanh N và chị Nguyễn Thị Tú S không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do tình cảm vợ chồng không còn nên anh Trần Thanh N yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị Tú S.

Chị Nguyễn Thị Tú S vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

Xét thấy, anh Trần Thanh N và chị Nguyễn Thị Tú S kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Chị Nguyễn Thị Tú S đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của anh Trần Thanh N theo quy định tại Điều 91 và Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng cho anh Trần Thanh N và chị Nguyễn Thị Tú S theo quy định của pháp luật nhưng chị Nguyễn Thị Tú S vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án nên không hòa giải được, thể hiện chị Nguyễn Thị Tú S không còn thiện chí níu kéo quan hệ hôn nhân giữa anh Trần Thanh N và chị Nguyễn Thị Tú S nên lời trình bày của anh Trần Thanh N về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn và tình trạng hôn nhân giữa anh Trần Thanh N và chị Nguyễn Thị Tú S đã lâm vào tình trạng trầm trọng là có cơ sở chấp nhận. Do đó, có căn cứ để xác định hôn nhân giữa anh Trần Thanh N và chị Nguyễn Thị Tú S đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, việc anh Trần Thanh N yêu cầu ly hôn chị Nguyễn Thị Tú S phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

Xét yêu cầu của anh Trần Thanh N về việc để chị Nguyễn Thị Tú S được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung khi vợ chồng ly hôn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Anh Trần Thanh N xác định anh Trần Thanh N và chị Nguyễn Thị Tú S có 01 con chung tên Trần Nguyễn N1, sinh ngày 04/10/2018; hiện nay, con chung đang sống với chị Nguyễn Thị Tú S. Khi ly hôn, anh Trần Thanh N đồng ý để chị Nguyễn Thị Tú S được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Trần Nguyễn N1.

Chị Nguyễn Thị Tú S vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

Xét thấy, việc giao con chung là người chưa thành niên cho người chăm sóc, nuôi dưỡng khi anh Trần Thanh N và chị Nguyễn Thị Tú S ly hôn phải đảm bảo điều kiện phát triển tốt nhất cho con cả về vật chất lẫn tinh thần. Căn cứ lời trình bày của anh Trần Thanh N, con chung hiện nay đang sống với chị Nguyễn Thị Tú S; quá trình sinh sống với chị Nguyễn Thị Tú S, con chung vẫn phát triển tốt. Tòa án đã tiến hành ghi nhận ý kiến của cháu Trần Nguyễn N1 nhưng do cháu Trần Nguyễn N1 vắng mặt tại nơi cư trú nên không ghi nhận được ý kiến. Để ổn định cuộc sống cho cháu Trần Nguyễn N1, giúp cháu Trần Nguyễn N1 phát triển tốt nhất về thể chất và tinh thần, Hội đồng xét xử xét thấy việc anh Trần Thanh N đồng ý để chị Nguyễn Thị Tú S được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung khi anh Trần Thanh N và chị Nguyễn Thị Tú S ly hôn phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Tú S là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung khi anh Trần Thanh N và chị Nguyễn Thị Tú S ly hôn nên anh Trần Thanh N phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình nhưng chị Nguyễn Thị Tú S vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng nên không ghi nhận được ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.

Đối với tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.

Về án phí và quyền kháng cáo:

Anh Trần Thanh N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Điều 28, 35, 39, 147, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025;

Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Trần Thanh N.

[1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Thanh N được ly hôn chị Nguyễn Thị Tú S.

[2] Về con chung:

Chị Nguyễn Thị Tú S được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Trần Nguyễn N1, sinh ngày 04/10/2018. Hiện nay, con chung đang sống với chị Nguyễn Thị Tú S.

Anh Trần Thanh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Nguyễn Thị Tú S cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh Trần Thanh N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Trên cơ sở lợi ích của con chung, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

[3] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Trần Thanh N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo Biên lai thu số 0012945 ngày 30/12/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.

[6] Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

[7] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ