vanban.org

Bản án 171/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đinh Ngọc M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Đinh Ngọc M 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/12/2024. Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) cây xà beng bằng kim loại dài khoảng 60cm; 01 (một) cái mũ bảo hiểm màu đỏ-trắng; 01 (một) đôi dép nhựa quai ngang màu đen; 01 (một) cái nón vải màu trắng-đen có chữ GUCCI; 01… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đinh Ngọc M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 171/2025/HS-ST
Ngày: 04 - 9 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Như Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Ngọc Long;

2. Bà Lê Thị Phương Hồ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Kim An - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Chung - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 168/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đinh Ngọc M, sinh ngày 01/02/1994 tại tỉnh Bến Tre (nay là tỉnh Vĩnh Long); nơi đăng ký thường trú: Số D, ấp P, xã T, tỉnh Vĩnh Long (địa chỉ cũ: Số D, ấp P, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre); nơi ở hiện tại: Số G Đường số G, ấp H, xã C, Thành phố Hồ Chí Minh (địa chỉ cũ: Số G Đường số G, ấp H, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Công M1, sinh năm 1965 và bà Đinh Thị Thanh T, sinh năm 1970; anh, chị, em ruột gồm có 02 (hai) người kể cả bị cáo; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Â, sinh năm 1991 (đã ly hôn năm 2024); bị cáo có 01 người con sinh năm 2017.

Tiền sự: Không.

Tiền án:

Năm 2018, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xử phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 08/2018/HS-ST ngày 31/01/2018. Bị cáo chấp hành án xong hình phạt tù ngày 18/01/2020, chưa thi hành tiền án phí và bồi thường dân sự.

Năm 2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xử phạt 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tổng hợp hình phạt bị cáo phải chấp hành là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù theo Bản án số 16/2022/HSST ngày 18/01/2022. Bị cáo chấp hành án xong hình phạt tù ngày 04/7/2023. Xác minh tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre, bị cáo đã thi hành án phí.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/12/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

Bà Phạm Thị Kim C, sinh năm 1982 (có mặt);

Địa chỉ: Số G đường H, Ấp A, xã P, Thành phố Hồ Chí Minh (địa chỉ cũ: Số G đường H, Ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh).

Bà Nguyễn Thị Ngọc T1, sinh năm 2003 (xin vắng mặt);

Địa chỉ: Số C đường T, Ấp B, xã P, Thành phố Hồ Chí Minh (địa chỉ cũ: Số C đường T, Ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị Hồng H, sinh năm 1974 (có mặt);

Địa chỉ: Số G Đường số G, ấp H, xã C, Thành phố Hồ Chí Minh (địa chỉ cũ: Số G Đường số G, ấp H, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đinh Ngọc M là đối tượng sử dụng ma túy đá. Do muốn có tiền tiêu xài, Đinh Ngọc M nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản của người khác, cụ thể: Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 28/12/2024, Đinh Ngọc M một mình điều khiển xe gắn máy hiệu Honda loại SS50, biển số 50BC-0906 (xe 67) chở theo một cây xà beng bằng kim loại dài khoảng 60cm đi trên tuyến đường Tỉnh lộ 8 tìm tài sản để trộm cắp. Khi đi đến kiốt tại Số B đường T, Ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã P, Thành phố Hồ Chí Minh), M nhìn thấy khóa cửa bên ngoài nên quay xe lại. Sau khi quan sát thấy có lắp camera giám sát nên M nhặt túi nylon màu đen bên đường che camera lại. Sau đó, M dùng xà beng cạy 02 ổ khóa rồi đi vào cửa hàng, một ổ khóa vứt tại chỗ, một ổ khóa mang vào để bên trong. Khi đột nhập vào được kiốt, Minh tiến đến vị trí các tủ tìm kiếm tài sản. M thấy một hộp inox bên trong có số tiền 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng có mệnh giá từ 50.000 (năm mươi nghìn) đồng đến 200.000 (hai trăm nghìn) đồng và trong rổ tiền lẻ có 1.300.000 (một triệu ba trăm nghìn) đồng, gồm các mệnh giá từ 1.000 (một nghìn) đồng đến 20.000 (hai mươi nghìn) đồng, M lấy túi nylon màu xanh có sẵn tại cửa hàng bỏ tiền vào và mở tủ lấy một số linh kiện, điện thoại di động, gồm: 01 (một) điện thoại di động hiệu S loại Galaxy 5G màu đen; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung loại Galaxy A32 màu đen; 01 (một) điện thoại di động N loại phím bấm; 05 (năm) kính cường lực màu trắng màn hình điện thoại Iphone 7plus/8plus; 04 (bốn) kính cường lực màu đen màn hình điện thoại Iphone 7plus/8plus; 01 (một) tẩu sạc xe ô tô màu trắng; 03 (ba) bộ cáp, sạc Oppo R15; 01 (một) bộ cáp, sạc Oppo R17 Type-C; 01 (một) sạc dự phòng hiệu Fast Charge 120W/20000mAh. Sau đó, M kéo cửa khép lại rồi điều khiển xe máy cùng tài sản đã trộm được tẩu thoát về nhà. Khoảng 05 giờ 50 phút ngày 28/12/2024, bà Phạm Thị Kim C là chủ kiốt nêu trên phát hiện trình báo vụ việc.

Sau khi tiếp nhận tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp Công an xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh khám nghiệm hiện trường, trích xuất hình ảnh camera, truy xét đối tượng, thu giữ đồ vật, tài liệu gồm: 01 (một) ổ khóa bằng kim loại có chữ Nine Circle HCB-USA; 01 (một) ổ khóa bằng kim loại có chữ Zoro; 01 (một) camera hiệu IMOU; 01 (một) túi nylon màu đen. Sau đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra mời Đinh Ngọc M về làm việc. M đã thừa nhận hành vi của mình.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đinh Ngọc M, Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ đồ vật gồm: 01 (một) cây xà beng bằng kim loại dài khoảng 60cm; 01 (một) xe mô tô hiệu Honda loại SS50 biển số 50BC-0906; 01 (một) mũ bảo hiểm màu đỏ-trắng; 01 (một) đôi dép nhựa quai ngang màu đen; 01 (một) nón vải màu trắng-đen có chữ GUCCI; 01 (một) áo vải caro màu trắng-đen; 01 (một) quần jean vải màu xanh; tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam 383.000 (ba trăm tám mươi ba nghìn) đồng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Gallaxy 5G màu đen; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Gallaxy A32 màu đen; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo F1s màu vàng; 05 (năm) kính cường lực màu trắng màn hình điện thoại Iphone 7plus/8plus; 04 (bốn) kính cường lực màu đen màn hình điện thoại Iphone 7plus/8plus; 01 (một) tẩu sạc xe ô tô màu trắng; 03 (ba) bộ cáp, sạc Oppo R15; 01 (một) bộ cáp, sạc Oppo R17 Type-C; 01 (một) sạc dự phòng hiệu Fast Charge 120W/20000mAh. Trong đó, có 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo Fls màu vàng, M khai nhận ngày 22/12/2024, bằng phương thức, thủ đoạn tương tự nêu trên, M một mình lén lút dùng xà beng phá khóa cửa, đột nhập vào tiệm làm tóc Ngọc T1; địa chỉ tại Số C đường T, Ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã P, Thành phố Hồ Chí Minh) trộm cắp tài sản, gồm: 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo F1s màu vàng để trên bàn và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt nam mệnh giá 10.000 (mười nghìn) đồng được kết thành bó hoa treo trên tường. Ngày 29/12/2024, chị Nguyễn Thị Ngọc T1 đến Công an xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh trình báo sự việc.

Kết quả test nhanh chất ma túy trong mẫu nước tiểu của Đinh Ngọc M dương tính (+) với ma túy đá. M nhận dạng được đồ vật, tài sản đã trộm. Xác định đúng địa điểm, đúng người trong hình ảnh trích xuất camera là M khi đang thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 28/12/2024 tại Số B đường T, Ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã P, Thành phố Hồ Chí Minh).

Kết luận định giá tài sản số 14/KL-HĐĐGTS ngày 21/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy 5G màu đen đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A32 màu đen đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo F1s màu vàng đã qua sử dụng; 05 (năm) kính cường lực màu trắng màn hình điện thoại Iphone 7plus/8plus chưa qua sử dụng; 04 (bốn) kính cường lực màu đen màn hình điện thoại Iphone 7plus/8plus chưa qua sử dụng; 01 (một) tẩu sạc xe ô tô màu trắng chưa qua sử dụng; 03 (ba) bộ cáp, sạc Oppo R15 chưa qua sử dụng; 01 (một) bộ cáp, sạc Oppo R17 Type-C chưa qua sử dụng; 01 (một) sạc dự phòng hiệu Fast Charge 120W/20.000mAh chưa qua sử dụng có tổng giá trị 5.550.000 (năm triệu năm trăm năm mươi nghìn) đồng.

Tại Bản Cáo trạng số 14/CT-VKSKV8 ngày 08/7/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Đinh Ngọc M về tội “Trộm cắp tài sản” theo Điểm g Khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa,

Bị cáo Đinh Ngọc M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố. Bị cáo thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng, không oan sai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Thành phố Hồ Chí Minh đã đánh giá tính chất nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi của bị cáo; đánh giá các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo; giữ nguyên quan điểm truy tố; luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng Điểm g Khoản 2 Điều 173, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điểm g Khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Đinh Ngọc M mức án từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

- Về xử lý vật chứng:

+ 01 (một) ổ khóa bằng kim loại có chữ Nine Circle HCB-USA; 01 (một) ổ khóa bằng kim loại có chữ Zoro; 01 (một) camera hiệu IMOU; 01 (một) túi nylon màu đen; tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam 383.000 (ba trăm tám mươi ba nghìn) đồng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy 5G màu đen đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A32 màu đen đã qua sử dụng; 05 (năm) kính cường lực màu trắng màn hình điện thoại Iphone 7plus/8plus chưa qua sử dụng; 04 (bốn) kính cường lực màu đen màn hình điện thoại Iphone 7plus/8plus chưa qua sử dụng; 01 (một) tẩu sạc xe ô tô màu trắng chưa qua sử dụng; 03 (ba) bộ cáp, sạc Oppo R15 chưa qua sử dụng; 01 (một) bộ cáp, sạc Oppo R17 Type-C chưa qua sử dụng; 01 (một) sạc dự phòng hiệu Fast Charge 120W/20.000mAh chưa qua sử dụng, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bà Phạm Thị Kim C nên không đề nghị xem xét.

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo F1s màu vàng, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bà Nguyễn Thị Ngọc T1 nên không đề nghị xem xét.

+ 01 (một) cây xà beng bằng kim loại dài khoảng 60cm; 01 (một) mũ bảo hiểm màu đỏ-trắng; 01 (một) đôi dép nhựa ngai ngang màu đen; 01 (một) nón vải màu trắng-đen có chữ GUCCI; 01 (một) áo vải caro màu trắng-đen; 01 (một) quần jean vải màu xanh đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy.

+ 01 (một) xe mô tô hiệu Honda loại SS50 biển số 50BC-0906 đề nghị Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

- Về trách nhiệm dân sự:

+ Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận về việc bị cáo bồi thường cho bà Phạm Thị Kim C số tiền 9.000.000 (chín triệu) đồng.

+ Bà Nguyễn Thị Ngọc T1 đã nhận lại tài sản là điện thoại di động hiệu Oppo F1s màu vàng. Đối với số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng bà T1 từ chối nhận lại nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Bị cáo không tranh luận, không tự bào chữa.

Bị hại là bà Phạm Thị Kim C yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 9.000.000 (chín triệu) đồng, không có ý kiến gì khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là bà Nguyễn Thị Hồng H trình bày: Chiếc xe mô tô hiệu Honda loại SS50, biển số 50BC-0906 là của ba bà - ông Nguyễn Thế P, sinh năm 1925, đã chết năm 2020. Xe do ông P mua lại, không làm giấy tờ mua bán sang tên. Bà đồng ý nộp chiếc xe nêu trên vào ngân sách nhà nước.

Bị cáo nói lời sau cùng: Trong thời gian bị tạm giam, bị cáo rất hối hận về hành vi của bị cáo đã thực hiện và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng:

Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung, bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh; điều luật áp dụng; tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Tại phiên tòa, bị cáo Đinh Ngọc M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, cụ thể:

Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 28/12/2024, bị cáo điều khiển xe gắn máy hiệu Honda loại SS50, biển số 50BC-0906 chở theo một cây xà beng bằng kim loại dài khoảng 60cm tìm tài sản để trộm cắp. Khi đi đến kiốt tại Số B đường T, ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã P, Thành phố Hồ Chí Minh) do bà Phạm Thị Kim C làm chủ, bị cáo đã dùng xà beng cạy 02 ổ khóa rồi đi vào cửa hàng lén lút trộm cắp các tài sản gồm: 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy 5G màu đen; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A32 màu đen; 01 (một) điện thoại di động N loại phím bấm; 05 (năm) kính cường lực màu trắng màn hình điện thoại Iphone 7plus/8plus; 04 (bốn) kính cường lực màu đen màn hình điện thoại Iphone 7plus/8plus; 01 (một) tẩu sạc xe ô tô màu trắng; 03 (ba) bộ cáp, sạc Oppo R15; 01 (một) bộ cáp, sạc Oppo R17 Type-C; 01 (một) sạc dự phòng hiệu Fast Charge 120W/20000mAh có tổng giá trị là 4.750.000 (bốn triệu bảy trăm năm mươi nghìn) đồng và tiền mặt 2.800.000 (hai triệu tám trăm nghìn) đồng của bà C.

Trước đó, ngày 22/12/2024, bị cáo đột nhập vào tiệm làm tóc Ngọc T1; địa chỉ tại Số C đường T, Ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã P, Thành phố Hồ Chí Minh) trộm cắp tài sản gồm: 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo F1s màu vàng có giá trị 800.000 (tám trăm nghìn) đồng và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam, tổng giá trị là 1.100.000 (một triệu một trăm nghìn) đồng của bà Nguyễn Thị Ngọc T1.

Hành vi nêu trên của bị cáo Đinh Ngọc M đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm g Khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Đinh Ngọc M về tội “Trộm cắp tài sản” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện vì lười lao động mà muốn có tiền tiêu xài. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu của người khác được nhà nước và pháp luật bảo vệ. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm khắc mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và góp phần trong công cuộc đấu tranh, phòng ngừa tội phạm chung cho toàn xã hội. Tuy nhiên, cần xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm trong hành vi và nhân thân của bị cáo để có mức hình phạt tương xứng.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên thuộc quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt là có căn cứ.

Tiền sự: Không.

Tiền án:

Năm 2018, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xử phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 08/2018/HS-ST ngày 31/01/2018. Bị cáo chấp hành án xong hình phạt tù ngày 18/01/2020, chưa thi hành tiền án phí và bồi thường dân sự.

Năm 2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xử phạt 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tổng hợp hình phạt bị cáo phải chấp hành là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù theo Bản án số 16/2022/HSST ngày 18/01/2022. Bị cáo chấp hành án xong hình phạt tù ngày 04/7/2023.

Về hình phạt bổ sung:

Xét bị cáo làm mướn thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử xét không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại Khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ.

Về xử lý vật chứng vụ án:

- 01 (một) ổ khóa bằng kim loại có chữ Nine Circle HCB-USA; 01 (một) ổ khóa bằng kim loại có chữ Zoro; 01 (một) camera hiệu IMOU; 01 (một) túi nylon màu đen; tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam 383.000 (ba trăm tám mươi ba nghìn) đồng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy 5G màu đen đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A32 màu đen đã qua sử dụng; 05 (năm) kính cường lực màu trắng màn hình điện thoại Iphone 7plus/8plus chưa qua sử dụng; 04 (bốn) kính cường lực màu đen màn hình điện thoại Iphone 7plus/8plus chưa qua sử dụng; 01 (một) tẩu sạc xe ô tô màu trắng chưa qua sử dụng; 03 (ba) bộ cáp, sạc Oppo R15 chưa qua sử dụng; 01 (một) bộ cáp, sạc Oppo R17 Type-C chưa qua sử dụng; 01 (một) sạc dự phòng hiệu Fast Charge 120W/20.000mAh chưa qua sử dụng, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bà Phạm Thị Kim C, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo F1s màu vàng, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bà Nguyễn Thị Ngọc T1, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp.

- 01 (một) cây xà beng bằng kim loại dài khoảng 60cm; 01 (một) mũ bảo hiểm màu đỏ-trắng; 01 (một) đôi dép nhựa ngai ngang màu đen; 01 (một) nón vải màu trắng-đen có chữ GUCCI; 01 (một) áo vải caro màu trắng-đen; 01 (một) quần jean vải màu xanh là vật chứng bị cáo sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, tiêu hủy.

- 01 (một) chiếc xe mô tô hiệu Honda loại SS50, biển số 50BC-0906 đứng tên ông Phan Công Đ, sinh năm 1964 có nơi đăng ký thường trú tại Số D L, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường N, Thành phố Hồ Chí Minh). Năm 2005, ông Đ đã bán lại cho người khác (không rõ lai lịch), không làm thủ tục mua bán, sang tên. Chiếc xe nêu trên do ông Nguyễn Thế P, sinh năm 1925, đã chết năm 2020 mua lại khoảng năm 2010-2012, không làm thủ tục mua bán sang tên và chỉ giữ giấy đăng ký xe. Bà Nguyễn Thị Hồng H là con của ông P quản lý, sử dụng xe đã cho bị cáo mượn xe để đi làm, không biết bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, tại phiên tòa bà H tự nguyện nộp chiếc xe nêu trên vào ngân sách sách nhà nước. Đồng thời, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã ra Thông báo truy tìm chủ sở hữu số C9052/TB-ĐCSHS ngày 20/5/2025 nhưng chưa có ai nhận là chủ sở hữu, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

Về trách nhiệm dân sự:

Ghi nhận sự thỏa thuận về việc bị báo bồi thường cho bị hại là bà Phạm Thị Kim C số tiền 9.000.000 (chín triệu) đồng.

Bị hại là bà Nguyễn Thị Ngọc T1 đã nhận lại tài sản là điện thoại di động hiệu Oppo F1s màu vàng; đối với số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng bà T1 không yêu cầu bị cáo trả lại, không yêu cầu bồi thường. Đây là quyền định đoạt của bà T1 đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của bà nên Hội đồng xét xử không xét.

Các vấn đề khác: Đối với lời khai của bị cáo về việc bị cáo cho ông Lê Minh T2, sinh năm 1982 cư trú tại ấp C, xã B, Thành phố Hồ Chí Minh điện thoại di động hiệu Nokia loại phím bấm, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã làm việc với ông T2 và tiến hành đối chất giữa bị cáo và ông T2 nhưng ông T2 không thừa nhận. Do đó, không có cơ sở xem xét, xử lý đối với ông Lê Minh T2.

Về nghĩa vụ chịu án phí:

Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Đinh Ngọc M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Căn cứ vào Điểm g Khoản 2 Điều 173, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điểm g Khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Bị cáo Đinh Ngọc M 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/12/2024.

2. Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) cây xà beng bằng kim loại dài khoảng 60cm; 01 (một) cái mũ bảo hiểm màu đỏ-trắng; 01 (một) đôi dép nhựa quai ngang màu đen; 01 (một) cái nón vải màu trắng-đen có chữ GUCCI; 01 (một) cái áo vải caro màu trắng-đen; 01 (một) cái quần jean vải màu xanh.

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) chiếc xe mô tô hiệu Honda loại SS50, biển số 50BC-0906.

Vật chứng được liệt kê theo Lệnh nhập kho vật chứng số 1146/LNK-CSHS(CC) ngày 25/3/2025 và Phiếu nhập kho vật chứng số 156/PNK-CSHS(CC) ngày 26/3/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ chí Minh.

3. Căn cứ vào Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 357, Điều 468, Điều 584, Điều 585 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Buộc bị cáo có nghĩa vụ bồi thường cho bà Phạm Thị Kim C số tiền 9.000.000 (chín triệu) đồng.

Kể từ ngày bà C có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo chậm trả số tiền nêu trên thì bị cáo phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại Khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

4. Căn cứ vào Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật phí và lệ phí năm 2015, Đ1 a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 450.000 (bốn trăm năm mươi nghìn) đồng bị cáo phải chịu.

5. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ