- Tranh chấp gì? án hành chính — "Đặng Phi T - Văn phòng ĐKĐĐ tỉnh B"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Phi T.
- Căn cứ chính? Điều 158 Luật Tố tụng hành chính; Điều 116 Luật Tố tụng hành chính; Điều 133 Luật Đất đai
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 171/2025/HC-ST Ngày: 30-9-2025 V/v: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Hòa
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Tương
Ông Phan Đình Khiêm
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng – Cơ sở 1 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 225/2025/TLST-HC ngày 25 tháng 6 năm 2025, về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 203/2025/QĐXXST-HC ngày 19 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:
Người khởi kiện: Ông Đặng Phi T, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Khu phố 1, phường B, tỉnh L.
Người bị kiện: Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B (Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng: Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh L).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P (Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng: Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai khu vực P);
- Uỷ ban nhân dân thành phố P (Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng: Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường B).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án người khởi kiệnông Đặng Phi T trình bày:
Ông Đặng Phi T là người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 1741, tờ bản đồ số 8, diện tích 84,9m2 đất ở nông thôn, tọa lạc tại thôn Xuân Phú, xã P1, thành phố P, tỉnh B được Sở Tài nguyên và Môi trường cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 877597 (số vào sổ cấp GCN: CS 08197) ngày 21/5/2019.
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên được Văn phòng công chứng Trương Văn Cương công chứng số 0513 quyển số 06/2025TP/CC-SCC-HĐGD ngày 09/6/2025. Thời điểm các bên ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất trên không bị ngăn chặn bởi các quyết định hành chính của cơ quan nhà nước, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Toà án hoặc quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án dân sự.
Sau khi ký Hợp đồng nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ông T đã kê khai đầy đủ các thủ tục theo quy định của pháp luật về đất đai và nộp hồ sơ tại Bộ phận một cửa Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai P để thực hiện thủ tục đăng ký cập nhật biến động sang tên thửa đất nêu trên. Ngày 19/6/2025, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai P ra Thông báo số 935/TB-CNVPĐKĐĐPT hoàn trả hồ sơ đăng ký chuyển quyền sử dụng đất của ông T với lý do phần diện tích đất ở nông thôn có nguồn gốc chuyển mục đích sử dụng đất tại Quyết định số 1148/QĐ-UBND ngày 30/11/2025 của UBND thành phố P nhưng không phù hợp quy hoạch theo Bản đồ quy họach sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của Uỷ ban nhân dân tỉnh B.
Việc Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai P ban hànhThông báo số 935/TB-CNVPĐKĐĐPT là không xem xét toàn diện quy định luật đất đai, làm ảnh hưởng nghiệm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Đặng Phi T. Ngoài ra, Quyết định số 1148/QĐ-UBND ngày 30/11/2015 của UBND thành phố P đến nay chưa bị thu hồi, huỷ bỏ. Vì vậy, ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
1. Tuyên huỷ Thông báo số 935/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 19/6/2025 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố P về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Đặng Phi T.
2. Tuyên buộc Văn phòng Đăng ký đất tỉnh B và Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai P thực hiện nhiệm vụ công vụ theo quy định pháp luật trong việc tiếp nhận và giải quyết hồ sơ đăng ký cập nhật biến động chuyển quyền sử dụng đất cho ông Đặng Phi T là người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đối với thửa đất số 1741, tờ bản đồ số 8, diện tích 84,9m2 đất ở nông thôn tọa lạc tại thôn Xuân Phú, xã P1, thành phố P, tỉnh B được Sở Tài nguyên và Môi trường cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 877597 (số vào sổ cấp GCN: CS 08197) ngày 21/5/2019.
Người bị kiện Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh L tại Công văn số 624/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 05/9/2025 trình bày:
Văn phòng Đăng ký đất đai thống nhất ý kiến tại Công văn số 1309/CNVPĐKĐĐKVPT-TTLT ngày 03/9/2025 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai khu vực P và không có hồ sơ, tài liệu nào khác để cung cấp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai khu vực P tại Công văn số 1309/CNVPĐKĐĐKVPT-TTLT ngày 03/9/2025 trình bày:
Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P có tiếp nhận hồ sơ đăng ký chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Đặng Phi T, biên nhận số 2025-2928/SNNMT-VPĐKĐĐ ngày 10/6/2025.
Thửa đất ông Đặng Phi T đăng ký nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 1741, tờ bản đồ số 8, diện tích 84,9 m2 đất ở tại nông thôn, địa chỉ thửa đất: thôn Xuân Phú, xã P1, thành phố P, theo Giấy chứng nhận số CQ 877597 cấp ngày 21/5/2019. Qua kiểm tra, thửa đất ở tại nông thôn của ông Đặng Phi T có nguồn gốc chuyển mục đích sử dụng đất (tại Quyết định số 1148/QĐ-UBND ngày 30/11/2015 về việc cho phép ông Nguyễn Thanh T1 và bà Nguyễn Thị Thanh H được chuyển mục đích sử dụng đất) nhưng không phù hợp quy hoạch sử dụng đất theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Ngày 30/11/2023, UBND tỉnh B ban hành Công văn số 4721/UBND-KT về việc ý kiến về nội dung báo cáo và đề nghị của Sở Tài nguyên và Môi trường tại Công văn số 5223/STNMT-CCQLĐĐ ngày 20/11/2023 có nêu: “…2. Giao trách nhiệm cho UBND các huyện, thị xã, thành phố tiếp tục tự rà soát và tự chịu trách nhiệm đối với các trường hợp đã cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để làm rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân tham mưu, giải quyết trước đây. Trên cơ sở kết quả rà soát, có báo cáo và kiến nghị đề xuất gửi Sở Tài nguyên và Môi trường”.
Ngày 24/5/2024, UBND thành phố P có Công văn số 290/TB-UBND thông báo về việc có ý kiến kết luận của Phó Chủ tịch UBND thành phố - Lê Thanh S tại cuộc họp chiều ngày 08/5/2024, đề xuất phương án xử lý các trường hợp chuyển mục đich sử dụng đất không phù hợp quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B có nêu: “…Giao Phòng Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp các đơn vị liên quan và UBND phường, xã khẩn trương, tổng hợp tham mưu UBND thành phố báo cáo kiến nghị UBND tỉnh xem xét chỉ đạo tiếp theo…”.
Căn cứ các công văn nêu trên của UBND tỉnh B và UBND thành phố P, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P ban hành Thông báo số 935/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 19/6/2025 thông báo và hoàn trả hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Đặng Phi T.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng:
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình thụ lý vụ án và tại phiên tòa, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật.
+ Về việc giải quyết vụ án: Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P viện dẫn vì chưa có ý kiến chỉ đạo giải quyết hồ sơ của cấp có thẩm quyền liên quan đến vướng mắc các trường hợp hồ sơ chuyển quyền những thửa đất đã chuyển mục đích chưa đảm bảo theo quy định nên không giải quyết hồ sơ đăng ký chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Đặng Phi T là không có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Phi T. Tuyên xử: Hủy Thông báo số 935/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 19/6/2025 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P; Buộc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai P và Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B (nay là Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh L) thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ khác đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hành chính thấy:
Về đối tượng khởi kiện và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Ông Đặng Phi T khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Thông báo số 935/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 19/6/2025 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Đặng Phi T; buộc Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P (nay là Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai khu vực P); Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B (nay là Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh L) thực hiện nhiệm vụ công vụ theo quy định pháp luật trong việc tiếp nhận và giải quyết hồ sơ đăng ký cập nhật biến động chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Đặng Phi T đối với thửa đất số 1741, tờ bản đồ số 8, diện tích 84,9m2 đất ở nông thôn, tọa lạc tại thôn Xuân Phú, xã P1, thành phố P, tỉnh B (nay là khu phố Xuân Phú, phường B, tỉnh L). Xét thấy, Quyết định hành chính và hành vi hành chính trên có nội dung điều chỉnh các quan hệ trong hoạt động quản lý nhà nước về đất đai, là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh B (nay là Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng) theo quy định tại Khoản 1 Điều 30, Khoản 4 Điều 32 của Luật tố tụng hành chính và khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân.
Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 19/6/2025, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P thuộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B (nay là Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Lâm Đồng) ban hành Thông báo số 935/TB-CNVPĐKĐĐPT thông báo hoàn trả hồ sơ đăng ký chuyển quyền sử dụng đất của ông Đặng Phi T. Ngày 20/6/2025, ông Đặng Phi T nộp đơn khởi kiện quyết định hành chính và hành vi hành chính của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B (nay là Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Lâm Đồng) tại Tòa án, là còn trong thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính.
Tại phiên tòa, ông Đặng Phi T là người khởi kiện; Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B (nay là Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh L) là người bị kiện; Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai khu vực P, Chủ tịch UBND phường B (là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của UBND thành phố P) là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 158 của Luật tố tụng hành chính, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
Tính hợp pháp của Thông báo số 935/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 19/6/2025 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P (nay là Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai khu vực P):
Về trình tự, thẩm quyền: Việc tiếp nhận và giải quyết hồ sơ đăng ký biến động thuộc thẩm quyền của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh thông qua các Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện, thành phố. Do đó, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P thuộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B (nay là Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh L) tiếp nhận là đúng thẩm quyền và trình tự theo quy định tại Điều 133 và khoản 2 Điều 136 Luật đất đai năm 2024; Điều 21 Nghị định số 101/2024/NĐ-CP ngày 29/7/2024 của Chính phủ.
Về nội dung: Qua kiểm tra, thửa đất ở tại nông thôn của ông Đặng Phi T có nguồn gốc chuyển mục đích sử dụng đất (tại Quyết định số 1148/QĐ-UBND ngày 30/11/2015 về việc cho phép ông Nguyễn Thanh T1 và bà Nguyễn Thị Thanh H được chuyển mục đích sử dụng đất) nhưng không phù hợp quy hoạch sử dụng đất theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Ngày 30/11/2023, UBND tỉnh B ban hành Công văn số 4721/UBND-KT về việc ý kiến về nội dung báo cáo và đề nghị của Sở Tài nguyên và Môi trường tại Công văn số 5223/STNMT-CCQLĐĐ ngày 20/11/2023 có nêu: “…2. Giao trách nhiệm cho UBND các huyện, thị xã, thành phố tiếp tục tự rà soát và tự chịu trách nhiệm đối với các trường hợp đã cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để làm rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân tham mưu, giải quyết trước đây. Trên cơ sở kết quả rà soát, có báo cáo và kiến nghị đề xuất gửi Sở Tài nguyên và Môi trường”.
Ngày 24/5/2024, UBND thành phố P có Công văn số 290/TB-UBND thông báo về việc có ý kiến kết luận của Phó Chủ tịch UBND thành phố - Lê Thanh S tại cuộc họp chiều ngày 08/5/2024, đề xuất phương án xử lý các trường hợp chuyển mục đich sử dụng đất không phù hợp quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B có nêu: “…Giao Phòng Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp các đơn vị liên quan và UBND phường, xã khẩn trương, tổng hợp tham mưu UBND thành phố báo cáo kiến nghị UBND tỉnh xem xét chỉ đạo tiếp theo…”.
Sau khi các cấp có thẩm quyền có ý kiến chỉ đạo liên quan đến các nội dung vướng mắc thì Chi nhánh Văn phòng sẽ thông báo cho ông được biết và phối hợp thực hiện.
Xét về nội dung vụ án:
Thửa đất số 1741, tờ bản đồ số 8, diện tích 84,9 m2 đất ở tại nông thôn, địa chỉ thửa đất: thôn Xuân Phú, xã P1, thành phố P, theo Giấy chứng nhận số CQ 877597 cấp ngày 21/5/2019, có lịch sử biến động như sau:
Hộ ông Nguyễn Thanh T1 và bà Nguyễn Thị Thanh H được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 383816 ngày 14/9/2015, đối với thửa đất số 123, tờ bản đồ số 8, diện tích 569,0m2, địa chỉ thửa đất: thôn Xuân Phú, xã P1, thành phố P. Ngày 30/11/2015, Ủy ban nhân dân thành phố P ban hành Quyết định số 1148/QĐ-UBND về việc cho phép ông Nguyễn Thanh T1 và bà Nguyễn Thị Thanh H được chuyển mục đích sử dụng đất, đối với thửa đất số 123, tờ bản đồ số 8, diện tích 569,0m2, từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở nông thôn.
Sau đó, hộ ông Nguyễn Thanh T1 và bà Nguyễn Thị Thanh H chuyển nhượng một phần diện tích đất trên cho ông Lê Hồng P được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 877597 cấp ngày 21/5/2019, đối với thửa đất số 1741, tờ bản đồ số 8, diện tích 84,9 m2 đất ở tại nông thôn, địa chỉ thửa đất: thôn Xuân Phú, xã P1, thành phố P.
Ngày 09/6/2025, ông Đỗ Cao T2 là người đại diện theo uỷ quyền của ông Lê Hồng P, bà Đỗ Huệ T3 lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Đặng Phi T và được Văn phòng công chứng Trương Văn Cương công chứng số 05130, quyển số 06/2025TP/CC-SCC/HĐGD.
Xét về điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 1741, tờ bản đồ số 8, diện tích 84,9 m2 đất ở tại nông thôn, địa chỉ thửa đất: thôn Xuân Phú, xã P1, thành phố P, tỉnh B (nay là khu phố Xuân Phú, phường B, tỉnh L), thì thấy:
Thửa đất số1741, tờ bản đồ số 8, diện tích 84,9 m2 đất ở tại nông thôn, địa chỉ thửa đất: thôn Xuân Phú, xã P1, thành phố P, tỉnh B (nay là khu phố Xuân Phú, phường B, tỉnh L) đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 877597 cấp ngày 21/5/2019 cho ông Lê Hồng P.
Ngày 09/6/2025, ông Đỗ Cao T2 là người đại diện theo uỷ quyền của ông Lê Hồng P, bà Đỗ Huệ T3 lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Đặng Phi T và được Văn phòng công chứng Trương Văn Cương công chứng số 05130, quyển số 06/2025TP/CC-SCC/HĐGD.
Như vậy, ông Đặng Phi T là người nhận chuyển nhượng thứ 3 đối với thửa đất được UBND thành phố P cho phép chuyển mục đích sử dụng đất.
Tại Điều 133 Bộ luật dân sự 2015 quy định về việc “Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay T khi giao dịch dân sự vô hiệu”:
“2. Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay T và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu …”.
Khoản 1 Điều 45 Luật Đất đai 2024 quy định về Điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất: “...1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp thừa kế quyền sử dụng đất, chuyển đổi đất nông nghiệp khi dồn điền, đổi thửa, tặng cho quyền sử dụng đất cho Nhà nước, cộng đồng dân cư và trường hợp quy định tại khoản 7 Điều 124 và điểm a khoản 4 Điều 127 của Luật này;
b) Đất không có tranh chấp hoặc tranh chấp đã được giải quyết bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bản án, quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phán quyết của Trọng tài đã có hiệu lực pháp luật;
c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên, áp dụng biện pháp khác để bảo đảm thi hành án theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự;
d) Trong thời hạn sử dụng đất;
đ) Quyền sử dụng đất không bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật”
Căn cứ các quy định trên thì thửa đất số 1741, tờ bản đồ số 8, diện tích 84,9m2 đất ở tại nông thôn, địa chỉ thửa đất: thôn Xuân Phú, xã P1, thành phố P, tỉnh B (nay là khu phố Xuân Phú, phường B, tỉnh L) có đầy đủ điều kiện để chuyển nhượng theo quy định tại Điều 45 của Luật Đất đai 2024. Việc Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P không giải quyết, hoàn trả hồ sơ đăng ký biến động đất đai đối với thửa đất trên là không có căn cứ.
Tại điểm a khoản 1 Điều 133 Luật Đất đai năm 2024, quy định về đăng ký biến động: “1. Đăng ký biến động được thực hiện đối với trường hợp đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất mà có thay đổi sau đây:
a) Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất; cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất trong dự án xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng; chuyển nhượng dự án có sử dụng đất; …”
Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B (nay là Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh L) không cung cấp cho Tòa án bất cứ tài liệu chứng cứ gì chứng minh thửa đất hiện nay đang có tranh chấp hay bị kê biên theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Việc Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P và Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B (nay là Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh L) cho rằng: Thửa đất của ông Đặng Phi T nhận chuyển nhượng từ ông Lê Hồng P, bà Đỗ Huệ T3 có nguồn gốc từ việc UBND thành phố P cho phép chuyển mục đích sử dụng đất nhưng không phù hợp quy hoạch sử dụng đất và lấy lý do chờ chỉ đạo, hướng dẫn của cơ quan cấp trên để từ chối thực hiện thủ tục đăng ký biến động đất đai đối với hồ sơ của ông T mà không đưa ra được bất cứ một cơ sở pháp lý nào là không phù hợp quy định của pháp luật.
Mặt khác, hiện nay cơ quan có thẩm quyền chưa thu hồi và hủy Quyết định số 1148/QĐ-UBND ngày 30/11/2015 của UBND thành phố P về việc cho phép chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở tại nông thôn.
Từ các chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy việc Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P ban hành Thông báo số 935/TB-CNVPĐKĐĐPT, ngày 19/6/2025 là đúng về trình tự thủ tục, thẩm quyền nhưng không đúng về mặt nội dung theo quy định pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Đặng Phi T. Vì vậy, ông Đặng Phi T yêu cầu hủy Thông báo số 935/TB-CNVPĐKĐĐPT, ngày 19/6/2025 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P; đồng thời buộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B (nay là Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh L) và Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai khu vực P có trách nhiệm tiếp nhận lại và giải quyết hồ đăng ký biến động đối với thửa đất số 1741, tờ bản đồ số 8, diện tích 84,9m2 đất ở tại nông thôn, địa chỉ thửa đất: thôn Xuân Phú, xã P1, thành phố P, tỉnh B (nay là khu phố Xuân Phú, phường B, tỉnh L) cho ông Đặng Phi T là có cơ sở nên được chấp nhận.
Quan điểm của Kiểm sát viên phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, quy định pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Phi T được chấp nhận nên theo quy định tại khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B (nay là Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh L) phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 3, Điều 30, Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116, khoản 1 Điều 158, điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính;
Điều 21 Nghị định số 101/2024/NĐ-CP ngày 29/7/2024 của Chính phủ;
Điều 45; Điều 133 và khoản 2 Điều 136 Luật Đất đai năm 2024;
Điều 21 Nghị định số 101/2014/NĐ-CP ngày 29/7/2024 của Chính phủ;
Khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UNTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Phi T.
[1.1] Hủy Thông báo số 935/TB-CNVPĐKĐĐPT, ngày 19/6/2025 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P về việc hoàn trả hồ sơ đăng ký chuyển quyền sử dụng đất của ông Đặng Phi T.
[1.2] Buộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh L và Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai khu vực P thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định pháp luật về việc ông Đặng Phi T đăng ký biến động đối với thửa đất 1741, tờ bản đồ số 8, diện tích 84,9m2 đất ở tại nông thôn, địa chỉ thửa đất: thôn Xuân Phú, xã P1, thành phố P, tỉnh B (nay là khu phố Xuân Phú, phường B, tỉnh L).
2. Về án phí: Buộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.
Hoàn trả lại cho ông Đặng Phi T số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000825 ngày 24/6/2025 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh B (nay là Thi hành án dân sự tỉnh L).
3. Quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Luật tố tụng Hành chính.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - THADS tỉnh Lâm Đồng; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Vũ Thị Thanh Hòa |