- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Thị KD chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256 Luật sửa đổi, bổ su…"
- Tòa quyết gì? * Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Thị KD phạm tội "Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 256 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 171/2024/HSST Ngày: 07/3/2024. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Xuân Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Duy Tuyên
2. Bà Phạm Thị Mỹ Linh.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 3 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 185/2024/HSST, ngày 01 tháng 02 năm 2024 và theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 194/2024/QĐXXST - HS, ngày 23 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đỗ Thị KD - sinh năm 1985. Giới tính: Nữ. Nơi ở hiện nay: Số nhà 30/28 Hồ XH, phường TS, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 5/12. Con ông Đỗ Văn Dũng và bà Nguyễn Thị Thúy (đã chết). Chồng: Chưa có. Bị cáo có 01 con sinh năm 2023. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 17/02/2006, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (đã được xóa án tích); Ngày 04/11/2019, bị Tòa án nhân dân quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội xử phạt 16 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (đã được xóa án tích).
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn KT – sinh năm 1991. Nơi thường trú: Phố Tân Hà, phường ĐH, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Nơi ở hiện nay: Phố Sơn Vạn, phường ĐH, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).
* Người làm chứng: Anh Nguyễn VN – sinh năm 1983.
Nơi cư trú: Số nhà 461 Hàm Nghi, phường ĐH, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 17/10/2023, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc có một số đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy tại số nhà 30/28 Hồ XH, phường TS, thành phố Thanh Hóa, nên Tổ công tác của Công an phường TS tiến hành kiểm tra. Qúa trình kiểm tra, phát hiện trong nhà có Đỗ Thị KD chủ nhà, Nguyễn KT và Nguyễn VN. Tại chỗ, Tiến khai nhận vừa sử dụng ma túy loại Herone bằng hình thức tiêm chích tại nhà Dung, Tiến đưa trước cho Dung số tiền 100.000 đồng để được sử dụng ma túy trong nhà Dung và tự giác giao nộp 01 mảnh giấy bạc màu vàng, 01 xi lanh y tế bằng nhựa đã qua sử dụng, 01 vỏ lọ nước cất đã qua sử dụng. Dung tự giác giao nộp 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng và khai nhận là tiền Tiến đưa để được sử dụng ma túy trong nhà Dung. Nam khai nhận, có nhìn thấy Tiến đưa tiền cho Dung để được sử dụng ma túy tại nhà Dung và Tiến đã sử dụng ma túy bằng hình thức tiêm chích, Dung và Nam không sử dụng ma túy. Tổ công tác lập biên bản phạm tội quả tang đối với Đỗ Thị KD về hành vi Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy và thu giữ tang vật phục vụ công tác điều tra.
Về nguồn gốc số ma túy Nguyễn KT khai nhận, tối ngày 16/10/2023 thông qua các bạn nghiện tại khu vực cầu vượt đường Trần Hưng Đạo, phường Nam Ngạn, thành phố Thanh Hóa, Tiến gặp và mua của một người đàn ông không biết lai lịch, địa chỉ 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng.
Tại Kết luận giám định số: 7801/KL-KTHS ngày 03/11/2023 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: Không tìm thấy các chất ma túy và sản phẩm chuyển hóa trong mẫu nước tiểu ghi thu Nguyễn VN và Đỗ Thị KD; Tìm thấy 6-Monoacetylmorphine, Morphine trong mẫu nước tiểu ghi thu của Nguyễn KT.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn KT, Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ đến Công an thành phố Thanh Hóa đề nghị ra Quyết định xử lý vi phạm hành chính.
Số vật chứng của vụ án gồm: 01 mãnh giấy bạc màu vàng; 01 xi lanh y tế, đã qua sử dụng; 01 vỏ lọ ống nước cất; Tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam 100.000 đồng, hiện đang được nhập kho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa.
Tại bản Cáo trạng số: 118/CT-VKS ngày 30/01/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Đỗ Thị KD về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 256 của Bộ luật hình sự.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tại phiên tòa luận tội đối với bị cáo vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đỗ Thị KD phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 256; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Thị KD từ 36 đến 42 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, không có việc làm, không có thu nhập ổn định, hiện đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự. Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 mãnh giấy bạc màu vàng; 01 xi lanh y tế đã qua sử dụng; 01 vỏ lọ ống nước cất. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 100.000 đồng của bị cáo Đỗ Thị KD thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội.
Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Tại phiên toà, bị cáo Đỗ Thị KD đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo đã thống nhất với lời khai của những người tham gia tố tụng về hành vi đã thực hiện, thời gian, địa điểm, vật chứng thu được và các chứng cứ khác phản ánh tại hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 17/10/2023, tại số nhà 30/28 Hồ XH, phường TS, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, Đỗ Thị KD đã có hành vi cho Nguyễn KT sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà riêng của Dung lấy số tiền 100.000 đồng, khi Tiến vừa sử dụng ma túy xong thì bị Công an phường TS kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.
Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo Đỗ Thị KD về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 256 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử thấy rằng: Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng, bởi hành vi Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, là vấn đề đang được rất quan tâm trong xã hội hiện nay. Bản thân bị cáo phải là người hiểu rõ nhất về tác hại của ma túy đối với sức khỏe, kinh tế, hạnh phúc gia đình và hậu quả khôn lường, nhưng bị cáo không ý thức được những điều đó, vẫn tạo điều kiện, chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà. Vì vậy, cần có đường lối xử lý nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội. Cho nên, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 17/02/2006, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Ngày 04/11/2019, bị Tòa án nhân dân quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội xử phạt 16 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, nên cần được xem xét khi quyết định hình phạt.
Từ những nhận xét đánh giá trên, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, biết chấp hành pháp luật.
Về hình phạt bổ xung: Xét thấy bị cáo là lao động tự do, không có việc làm, không có thu nhập ổn định, hiện đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 3 Điều 256 của Bộ luật hình sự.
Về vật chứng của vụ án: Cần tịch thu tiêu hủy 01 mãnh giấy bạc màu vàng; 01 xi lanh y tế đã qua sử dụng; 01 vỏ lọ ống nước cất. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 100.000 đồng của bị cáo Đỗ Thị KD thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội. Số vật chứng trên theo biên bản giao nhận vật chứng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 256; Điều 38; khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Thị KD phạm tội "Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy".
* Xử phạt: Bị cáo Đỗ Thị KD 36 (ba sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
* Về xử lý vật chứng: Tịch thu thu tiêu hủy 01 mảnh giấy bạc màu vàng; 01 xi lanh y tế đã qua sử dụng; 01 vỏ lọ ống nước cất. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 100.000 đồng, theo Biên bản giao, nhận vật chứng số: 112/2024/THA, hồi 09 giờ 00 phút ngày 20 tháng 02 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
* Về án phí: Buộc bị cáo Đỗ Thị KD phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
* Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - VKSND TP.Thanh Hóa; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - Chi cục THADS TP.Thanh Hóa; - TAND tỉnh Thanh Hoá; - Công an TP.Thanh Hóa; - Bị cáo; Người có QLNVLQ; - lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đỗ Xuân Hùng |