vanban.org

Bản án 171/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 07/08/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị Bích T (tên gọi khác là Nhí) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Thị Bích T (Nhí) 03 tháng 09 ngày tù, bằng thời gian tạm giam của bị cáo (ngày 01/5/2024 đến ngày 07/8/2024). Tuyên bố trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa. * Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị Bích T (tên gọi khác là Nhí) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 199 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. RẠCH GIÁ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 171/2024/HS-ST
Ngày: 07/8/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ - TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Mỹ

2. Bà Trần Thị Lệ

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá tham gia phiên tòa: Bà Đồng Thanh Lam – Chức vụ: Kiểm sát viên.

Trong ngày 07 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Rạch Giá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 186/2024/HSST ngày 12/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 194/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

* Họ và tên: Lê Thị Bích T (Nhí); Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 16/10/1986; Nơi sinh: Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi ĐKTT và chổ ở hiện nay: Số 40/16A Cao Bá Quát, phường Rạch Sỏi, thành phố Rạch Giá, Kiên Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 04/12; Cha: Lê Văn Vui, sinh năm 1960; Nghề nghiệp: Làm thuê; Mẹ: Nguyễn Thị Bé Hai, sinh năm 1968; Em: 05 người, lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 1997; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 06/02/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng theo Quyết định số 05/QĐ-TA. Ngày 09/10/2017 chấp hành xong.

Bị cáo được tại ngoại, có mặt tại phiên toà.

* Người bị hại: Bà Nguyễn Thị Bé Em, sinh năm 1998;

Địa chỉ cư trú: 112 Nguyễn Biểu, phường Vĩnh Lợi, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. (có đơn đề nghị vắng mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Lý Thanh Tâm, sinh năm: 1982

Địa chỉ cư trú: 84 U Minh Mười, phường Rạch Sỏi, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ, ngày 06/12/2023, Lê Thị Bích T đi bộ đến khu vực đường Nguyễn Biểu, phường Vĩnh Lợi, thành phố Rạch Giá, khi đến trước nhà số 112 thì phát hiện 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu đen trắng, biển kiểm soát 61Z4-2112 đậu phía trước hàng rào, chìa khoá vẫn còn trên xe, quan sát xung quanh không có ai nên T lén lút lên xe mở khoá chạy đi tìm nơi cầm xe. Đến khu vực chợ Rạch Sỏi, T gặp người thanh niên tên Tâm, T nói với Tâm xe của T bị mất giấy tờ, kẹt tiền muốn cầm xe cho Tâm nên Tâm đồng ý cầm xe cho T với giá 2.500.000 đồng. Số tiền có được do cầm xe, T tiêu xài cá nhân hết.

Đến ngày 01/3/2024, Lê Thị Bích T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá khởi tố bị can và cấm đi khỏi nơi cư trú để điều tra. Ngày 01/5/2024, bị bắt tạm giam theo Lệnh bắt bị can để tạm giam số 309, ngày 05/4/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá.

* Vật chứng thu giữ và xử lý vật chứng:

01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Sirius, màu đen trắng, biển số 61Z4-2112, số máy 5C64-270050, số khung 270042 đã qua sử dụng.

Cơ quan điều tra đã trao trả cho chủ sở hữu là Nguyễn Thị Bé Em: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu đen trắng, biển số 61Z4-2112, số máy 5C64-270050, số khung: 270042, đã qua sử dụng. Theo quyết định xử lý vật chứng số 243, ngày 05/3/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá

* Tại Kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐĐGTS, ngày 26 tháng 02 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Rạch Giá kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen trắng, biển kiểm soát 61Z4-2112, số máy 5C64-270050, số khung: 270042, đã qua sử dụng. Thời điểm định giá ngày 06/12/2023, trị giá 3.167.000 đồng/chiếc.

* Tại bản cáo trạng số 201/CT-VKSTPRG ngày 09/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá đã truy tố Lê Thị Bích T về tội: Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Lê Thị Bích T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Về hình phạt: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để tuyên phạt bị cáo mức án từ 03 tháng 09 ngày tù bằng thời gian bị cáo bị tạm giam, đề nghị trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố Rạch Giá, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiền hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét thấy, khoảng 19 giờ, ngày 06/12/2023, Lê Thị Bích T nhìn thấy xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu đen trắng, biển kiểm soát 61Z4-2112 đậu trước nhà số 112 đường Nguyễn Biểu, phường Vĩnh Lợi, thành phố Rạch Giá, chìa khoá vẫn còn trên xe, quan sát xung quanh không có ai nên T lén lút lên xe mở khoá chạy đi, sau đó T mang xe đi cầm cho Lý Thanh Tâm với giá 2.500.000 đồng. Giá trị tài sản chiếm đoạt qua định giá là 3.167.000 đồng. Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá đã truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như đã viện dẫn trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Xét tính chất mức độ thực hiện hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Nhưng vì mục đích muốn có tiền tiêu xài mà không phải bỏ công sức lao động chân chính, bị cáo bất chấp pháp luật thực hiện hành vi lén lút trộm cắp nhằm chiếm đoạt tài sản của những người bị hại một cách trái pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo với lỗi cố ý trực tiếp đã xâm phạm đến quyền sỡ hữu tài sản của những người bị hại được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm hoang mang lo lắng của quần chúng nhân dân.

Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu đã từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, thành khẩn khai báo, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS khi lượng hình.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cần có mức hình phạt tương xứng để răn đe đối với các bị cáo, xét thấy thời gian tạm giam bị cáo đã đủ răn đe đối với bị cáo. Hiện tại bị cáo đã ăn năn hối cãi với hành vi của mình do vậy Hội đồng xét xử xét thầy đề nghị về hình phạt đối với bị cáo là phù hợp, nên cần được chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp; thu nhập không ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 173 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017 đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

Xét thấy Cơ quan điều tra đã tiến hành trao trả tài sản cho bị hại là đúng quy định pháp luật nên HĐXX không xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 199 BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s, i khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị Bích T (tên gọi khác là Nhí) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Thị Bích T (Nhí) 03 tháng 09 ngày tù, bằng thời gian tạm giam của bị cáo (ngày 01/5/2024 đến ngày 07/8/2024). Tuyên bố trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa.

* Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

* Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 07/8/2024). Riêng người bị hại vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án. * Nơi nhận:

Cỡ chữ