vanban.org

Bản án 171/2024/DS-ST — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

TAND TX. Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 27/09/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Lê Hoài T (chủ hộ kinh doanh T2).

Xử buộc ông Đoàn Văn M1 và bà Huỳnh Thị Thu T1 liên đới có trách nhiệm hoàn trả cho anh Lê Hoài T (chủ hộ kinh doanh T) số tiền là 54.992.000 đồng (năm mươi bốn triệu chín trăm chín mươi hai ngàn đồng). Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày anh Lê Hoài T (chủ hộ kinh doanh Thành Long) có đơn … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Hợp đồng mua bán"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Lê Hoài T (chủ hộ kinh doanh T2).
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự tuyên quyền kháng cáo; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự tuyên quyền kháng cáo
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ VĨNH CHÂU
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 171/2024/DS-ST
Ngày 27-9-2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Liên Lâm Anh Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thái Trung Nghĩa.

Ông Triệu Khánh Long.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Anh Đô – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Diệp, Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 79/2024/TLST-DS, ngày 17 tháng 4 năm 2024 “Về việc tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 181/2024/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Lê Hoài T (Chủ hộ kinh doanh T2), sinh năm: 1989.

Địa chỉ: ấp T, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Chị Trần Diễm M, sinh năm: 1996 “có mặt”.

Địa chỉ: số C, khóm T, phường K, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

Là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền lập ngày 30/01/2024).

- Đồng bị đơn:

+ Ông Đoàn Văn M1, sinh năm: 1974 “có mặt”.

+ Bà Huỳnh Thị Thu T1, sinh năm: 1978 “vắng mặt”.

Cùng địa chỉ: ấp T, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện ngày 30 tháng 01 năm 2024 nguyên đơn là anh Lê Hoài T (chủ hộ kinh doanh T2) trình bày:

Ông Nguyễn Duy M2 là chủ hộ kinh doanh Thành L có hợp đồng bán thức ăn tôm và thuốc thủy sản cho ông Đoàn Văn M1 và bà Huỳnh Thị Thu T1. Theo hợp đồng thì ông M2 sẽ cung cấp thức ăn tôm và thuốc thủy sản cho ông M1 và bà T1, đơn giá được thông báo trực tiếp theo đơn hàng, được xác nhận theo từng thời điểm và được ghi nhận tại sổ giao nhận hàng. Sau khi nhận hàng thì ông M1 và bà T1 sẽ kiểm tra số lượng, chất lượng, chủng loại, đơn giá và ký tên vào sổ giao nhận hàng, khi ông M1 và bà T1 thu hoạch tôm thì phải trả đủ tiền nợ, trường hợp nuôi thất vẫn không làm mất nghĩa vụ thanh toán, nếu ông M1 và bà T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền thì ông M2 có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng và yêu cầu thanh toán đứt điểm tiền nợ.

Sau khi hợp đồng ông M2 đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, cung cấp đầy đủ các mặt hàng theo yêu cầu của ông M1 và bà T1, sau khi nhận hàng thì ông M1 và bà T1 thống nhất về số lượng, chất lượng, chủng loại, giá bán, nhưng sau khi thu hoạch tôm thì ông M1 và bà T1 không thực nghĩa vụ thanh toán dứt điểm tiền nợ theo hợp đồng. Tính đến ngày 14/6/2021 thì ông M1 và bà T1 còn nợ lại ông M2 số tiền 54.992.000 đồng.

Vào ngày 23/02/2023 ông M2 (chủ hộ kinh doanh T2) đã lập văn bản thỏa thuận chuyển giao toàn bộ quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hoạt động kinh doanh trước đây của hộ kinh doanh T3 cho anh Lê Hoài T làm chủ hộ kinh doanh T. Nên khi ông M1 và bà T1 không hoàn trả tiền theo hợp đồng thì anh T khởi kiện yêu cầu ông M1 và bà T1 cùng liên đới có trách nhiệm hoàn trả cho anh T (chủ hộ kinh doanh Thành L) số tiền ông M1 và bà T1 còn nợ là 54.992.000 đồng và tiền lãi là 14.450.676 đồng.

Tại phiên tòa hôm nay, chị Trần Diễm M là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, chị M chỉ yêu cầu ông Đoàn Văn M1 và bà Huỳnh Thị Thu T1 cùng liên đới có trách nhiệm hoàn trả cho anh Lê Hoài T (chủ hộ kinh doanh T) số tiền nợ gốc là 54.992.000 đồng, không yêu cầu ông M1 và bà T1 trả tiền lãi.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, đồng bị đơn là ông Đoàn Văn M1 và bà Huỳnh Thị Thu T1 cùng trình bày:

Ông Nguyễn Duy M2 (chủ hộ kinh doanh T2) có hợp đồng mua bán thức ăn tôm và thuốc thủy sản cho ông Đoàn Văn M1 và bà Huỳnh Thị Thu T1. Theo hợp đồng thì ông M2 sẽ cung cấp thức ăn tôm, thuốc thủy sản cho ông M1 và bà T1, đơn giá được thông báo trực tiếp theo đơn hàng, được xác nhận theo từng thời điểm và được ghi nhận tại sổ giao nhận hàng. Sau khi nhận hàng thì ông M1 và bà T1 sẽ kiểm tra số lượng, chất lượng, chủng loại, đơn giá và ký tên vào sổ giao nhận hàng. Đến khi thu hoạch tôm thì ông M1 và bà T1 sẽ trả đủ tiền nợ cho ông M2.

Sau khi hợp đồng ông M2 đã giao đầy đủ các mặt hàng theo yêu cầu của ông M1 và bà T1, khi nhận hàng thì ông M1 và bà T1 thống nhất về số lượng, chất lượng, chủng loại, giá bán. Nhưng khi thu hoạch tôm thì do ông M1 và bà T1 nuôi tôm bị thất, nên không trả đủ tiền nợ cho ông M2 theo hợp đồng. Tính đến ngày 14/6/2021 thì ông M1 và bà T1 còn nợ lại ông M2 số tiền 54.992.000 đồng. Từ đó đến nay ông M1 và bà T1 chưa hoàn trả số tiền nào cho ông M2 và anh T.

Ông M1 và bà T1 thống nhất hoàn trả cho anh T (chủ hộ kinh doanh T) số tiền 54.992.000 đồng, không tính lãi. Nhưng do làm ăn thất bại, nên ông M1 và bà T1 yêu cầu được trả dần, khi nào nuôi tôm trúng sẽ trả dần cho đến khi dứt nợ.

Tại phiên tòa, ông M1 vẫn giữ nguyên ý kiến trên.

* Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

- Việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và xác định tư cách của người tham gia tố tụng trong vụ án là đúng quy định của pháp luật; việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, nguyên đơn và bị đơn ông Đoàn Văn M1 trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Riêng bị đơn bà Huỳnh Thị Thu T1 không chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: tại phiên tòa, chị Trần Diễm M là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, chị M yêu cầu ông Đoàn Văn M1 và bà Huỳnh Thị Thu T1 cùng liên đới có trách nhiệm hoàn trả cho anh Lê Hoài T (chủ hộ kinh doanh T) số tiền nợ gốc là 54.992.000 đồng, không yêu cầu trả tiền lãi là không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ông M1 và bà T1 thống nhất hoàn trả cho anh Lê Hoài T (chủ hộ kinh doanh T) số tiền nợ gốc là 54.992.000 đồng. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 430, Điều 440 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Hoài T (chủ hộ kinh doanh T2), buộc ông M1 và bà T1 cùng liên đới có trách nhiệm hoàn trả cho anh T (chủ hộ kinh doanh T) số tiền 54.992.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: theo đơn khởi kiện của nguyên đơn anh Lê Hoài T (chủ hộ kinh doanh T2) kiện ông Đoàn Văn M1 và bà Huỳnh Thị Thu T1 là bị đơn cùng cư trú tại ấp T, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng theo khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật: nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả nợ tiền mua bán thức ăn nuôi tôm và thuốc thủy sản, nên Hội đồng xét xử xác định là tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Bà Huỳnh Thị Thu T1 là đồng bị đơn trong vụ án, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông L1.

Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là chị Trần Diễm M thay đổi yêu cầu khởi kiện như sau: chị M chỉ yêu cầu ông Đoàn Văn M1 và bà Huỳnh Thị Thu T1 cùng liên đới có trách nhiệm hoàn trả cho anh Lê Hoài T (chủ hộ kinh doanh T) số tiền nợ gốc là 54.992.000 đồng, không yêu cầu ông M1 và bà T1 trả tiền lãi.

Xét thấy: việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là tự nguyện, không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu của nguyên đơn, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn.

Về nội dung hợp đồng mua bán tài sản giữa ông Nguyễn Duy M2 (chủ hộ kinh doanh Thành Long) và ông Đoàn Văn M1, bà Huỳnh Thị Thu T1:

Ông Nguyễn Duy M2 (chủ hộ kinh doanh T2) có hợp đồng mua bán thức ăn tôm và thuốc thủy sản cho ông Đoàn Văn M1 và bà Huỳnh Thị Thu T1. Theo hợp đồng thì ông M2 sẽ cung cấp thức ăn tôm, thuốc thủy sản cho ông M1 và bà T1, đơn giá được thông báo trực tiếp theo đơn hàng, được xác nhận theo từng thời điểm và được ghi nhận tại sổ giao nhận hàng. Sau khi nhận hàng thì ông M1 và bà T1 sẽ kiểm tra số lượng, chất lượng, chủng loại, đơn giá và ký tên vào sổ giao nhận hàng. Đến khi thu hoạch tôm thì ông M1 và bà T1 sẽ trả đủ tiền nợ cho ông M2.

Xét về nội dung và hình thức của hợp đồng: tại thời điểm các bên thực hiện hợp đồng mua bán, ông M2 và ông M1, bà T1 là những người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, khi giao kết hợp đồng đều hoàn toàn dựa trên cơ sở tự nguyện của các bên, đối tượng giao dịch được pháp luật cho phép, hình thức, nội dung và mục đích của hợp đồng phù hợp với pháp luật và không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định tại Điều 117, Điều 119, Điều 398 và Điều 430 của Bộ luật Dân sự, nên hợp đồng mua bán tài sản có hiệu lực pháp luật.

Giữa ông Nguyễn Duy M2 và ông Đoàn Văn M1, bà Huỳnh Thị Thu T1 đã tự nguyện thực hiện giao dịch mua bán với nhau. Quá trình thực hiện hợp đồng ông M2 đã thực hiện đúng nghĩa vụ của bên bán giao đủ số lượng và chất lượng thức ăn tôm cho ông M1 và bà T1, còn ông M1 và bà T1 không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán đầy đủ tiền mua thức ăn cho ông M2 theo hợp đồng. Đến ngày 14/6/2021 thì ông M1 và bà T1 còn nợ lại ông M2 số tiền 54.992.000 đồng. Ông M1 và bà T1 đều thừa nhận số tiền nợ này và có ký nhận nợ vào sổ theo dõi nợ, nên đây là tình tiết anh T không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu của anh Lê Hoài T (chủ hộ kinh doanh T2) về việc yêu cầu ông Đoàn Văn M1 và bà Huỳnh Thị Thu T1 cùng liên đới có trách nhiệm hoàn trả số tiền còn nợ trong hợp đồng mua bán là 54.992.000 đồng.

Vào ngày 23/02/2023 ông Nguyễn Duy M2 (chủ hộ kinh doanh T2) đã lập văn bản thỏa thuận chuyển giao toàn bộ quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hoạt động kinh doanh trước đây của hộ kinh doanh T3 cho anh Lê Hoài T làm chủ hộ kinh doanh T. Do ông Đoàn Văn M1 và bà Huỳnh Thị Thu T1 không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền, nên anh T yêu cầu ông M1 và bà T1 cùng liên đới có trách nhiệm hoàn trả cho anh T số tiền còn nợ là 54.992.000 đồng, ông M1 và bà T1 cũng thống nhất hoàn trả cho anh T số tiền 54.992.000 đồng. Xét thấy, yêu cầu của anh T là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 430 và Điều 440 của Bộ luật Dân sự, nên Hội đồng xét xử chấp nhận, xử buộc ông M1 và bà T1 cùng liên đới có trách nhiệm hoàn trả cho anh T số tiền 54.992.000 đồng.

Đối với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Hoài T (chủ hộ kinh doanh T2), buộc ông Đoàn Văn M1 và bà Huỳnh Thị Thu T1 cùng liên đới có trách nhiệm hoàn trả cho anh T (chủ hộ kinh doanh T) số tiền 54.992.000 đồng. Như đã nhận định ở phần trên, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu là có cơ sở và phù hợp pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với ý kiến của ông Đoàn Văn M1 và bà Huỳnh Thị Thu T1 xin trả dần số tiền 54.992.000 đồng. Xét thấy không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: áp dụng khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, buộc ông Đoàn Văn M1 và bà Huỳnh Thị Thu T1 cùng liên đới nộp số tiền 2.749.600 đồng án phí dân sự sơ thẩm; anh Lê Hoài T (chủ hộ kinh doanh T2) không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho anh T số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 1.736.066 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003177 ngày 09 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

Về quyền kháng cáo bản án: Hội đồng xét xử áp dụng Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, Điều 147, khoản 1 Điều 244, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117, Điều 119, Điều 117, Điều 119, Điều 357, Điều 398, Điều 430, Điều 440 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự; điểm b khoản 1 Điều 24 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

1. Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Lê Hoài T (chủ hộ kinh doanh T2).

Xử buộc ông Đoàn Văn M1 và bà Huỳnh Thị Thu T1 liên đới có trách nhiệm hoàn trả cho anh Lê Hoài T (chủ hộ kinh doanh T) số tiền là 54.992.000 đồng (năm mươi bốn triệu chín trăm chín mươi hai ngàn đồng).

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày anh Lê Hoài T (chủ hộ kinh doanh Thành Long) có đơn yêu cầu thi hành án mà ông Đoàn Văn M1 và bà Huỳnh Thị Thu T1 không thực hiện việc trả nợ thì ông M1 và bà T1 còn phải trả lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự đối với số tiền chậm thi hành án.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: ông Đoàn Văn M1 và bà Huỳnh Thị Thu T1 cùng liên đới nộp số tiền 2.749.600 đồng (hai triệu bảy trăm bốn mươi chín ngàn sáu trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm; anh Lê Hoài T (chủ hộ kinh doanh T2) không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho anh T số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 1.736.066 đồng (một triệu bảy trăm ba mươi sáu ngàn không trăm sáu mươi sáu đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003177 ngày 09 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

3. Về quyền kháng cáo bản án: nguyên đơn và bị đơn ông Đoàn Văn M1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; Riêng bị đơn bà Huỳnh Thị Thu T1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ