- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Khánh D - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Khánh D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 171/2023/HS-ST Ngày: 16/6/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Liên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Sinh Tụ và bà Nguyễn Thị Thúy Mai
- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Mạnh Hùng – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Đinh Văn Mạnh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 6 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 133/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 144/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Khánh D; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không.
Sinh ngày 12 tháng 8 năm 1993 tại Thái Nguyên.
Nơi cư trú: xóm X, xã Đ, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không.
Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Con ông: Lê Xuân Đồng, con bà: Nông Thị V, vợ: Trần Thu H,
Con: 01 con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú” (không bị tạm giữ, tạm giam ngày nào). (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 03/10/2022, chị Dương Thị Q (sinh năm 2002, HKTT: xã Mỹ Bằng, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang) là nhân viên quản lý của nhà nghỉ Góc Phố thuộc tổ 15, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên do chị Nguyễn Thị N làm chủ, sử dụng tài khoản Facebook Dương Q đăng trong nhóm “Việc làm Thái Nguyên” với nội dung tuyển nhân viên lễ tân cho Nhà nghỉ Góc Phố. Sau đó, Lê Khánh D có nhắn tin với chị Q thỏa thuận đến thử việc tại nhà nghỉ với mức lương 4.500.000 đồng một tháng, thời gian làm việc từ 06 giờ đến 19 giờ hàng ngày. Đến ngày 05/10/2022, D đến nhà nghỉ gặp chị Q để nhận bàn giao công việc, chị Q có yêu cầu D cung cấp giấy tờ tùy thân để làm hợp đồng nhưng D không mang theo giấy tờ tùy thân và xin chị Q thêm thời gian thử việc, chị Q đồng ý.
Khoảng 6 giờ ngày 09/10/2022, D đến nhà nghỉ để nhận bàn giao ca với chị Q, khi này trong ngăn kéo tủ của quầy lễ tân có số tiền 1.000.000 đồng gồm 02 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng là tiền dự phòng mà chủ nhà nghỉ đưa để trả lại cho khách trong ngày, sau khi đã nhận toàn bộ tiền trong ngày thu của khách. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, D kiểm tra trên phần mềm quản lý thấy số tiền đã thu được của khách trong ca làm là 4.135.000 đồng và đã bỏ vào ngăn kéo tủ của quầy lễ tân. Do bản thân đang cần tiền tiêu xài cá nhân nên D đã nảy sinh ý định trộm cắp số tiền ở trong ngăn kéo tủ quầy lễ tân của nhà nghỉ. Lúc này, D sử dụng máy tính để kiểm tra các góc quay của camera, rồi ngồi quay lưng về hướng camera quầy lễ tân để che khuất tầm nhìn của camera, tay phải D sử dụng chuột máy tính để thao tác kiểm tra các camera, tay trái kéo ngăn tủ đựng tiền tại quầy lễ tân ra, D dồn tiền thành 1 sấp, vừa lấy vừa quan sát camera để đề phòng có người đến. Sau đó, D cất giấu tiền vào túi quần phía trước bên trái đang mặc, rồi dùng hai tay để sử dụng điện thoại di động. Quan sát xung quanh không có người, D đứng dậy đeo khẩu trang, dùng tay trái khóa ngăn tủ đựng tiền ở quầy lễ tân, cất chìa khóa vào túi áo khoác bên phải đang mặc rồi nhanh chóng đi ra khu vực để xe mô tô và điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SYM, màu đen, không rõ BKS đi về nhà ở khu vực xóm Xuân Đán, xã Đồng Liên, thành phố Thái Nguyên và đã vứt lại chìa khóa tủ ở dọc đường. Khi về đến nhà, D kiểm tra tiền thì thấy có 02 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 15 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, 8 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, 5 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng, 1 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng và 1 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng, tổng số tiền D trộm cắp được là 5.080.000 đồng. Số tiền trộm cắp được D đã tiêu xài cá nhân hết.
Khoảng 17 giờ 10 phút ngày 09/10/2022, chị Q đến thay ca cho D nhưng không thấy D có mặt tại nhà nghỉ, kiểm tra ngăn tủ đựng tiền ở quầy lễ tân khóa, kiểm tra camera an ninh nhà nghỉ thấy D đã lấy trộm tiền ở ngăn tủ của quầy thu ngân, khóa lại rồi bỏ đi.
Vật chứng của vụ án: Số tiền 5.080.000 đồng, tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Hiện không thu hồi được.
Phần dân sự: Bị cáo Lê Khánh D đã bồi thường số tiền 5.080.000 đồng cho chị Nguyễn Thị Nhạn, chị Nhạn không có yêu cầu, đề nghị gì.
Tại bản cáo trạng số 142/VKS-CT ngày 26/4/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Lê Khánh D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với nội dung bản Cáo trạng và đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Trong phần luận tội, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 9 đến 12 tháng nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Về trách nhiệm dân sự đã giải quyết xong, về án phí buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận việc truy tố xét xử là đúng người đúng tội không oan. Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử cho được hưởng mức án thấp nhất.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét khách quan toàn bộ các chứng cứ, ý kiến đề nghị của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác được đảm bảo thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ; không ai có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Xét về hành vi của bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại phiên tòa bị cáo D khai nhận, ngày 09/10/2022, tại nhà nghỉ Góc Phố, tổ 15, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên, Lê Khánh D đã trộm cắp số tiền 5.080.000 đồng của chị Nguyễn Thị Ntiêu sài cá nhân hết, đến nay D đã tự nguyện bồi thường toàn bộ số tiền D đã trộm cắp cho chị Nhạn.
Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với đơn trình báo, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, lời khai của người bị hại và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy Hành vi của bị cáo Lê Khánh huy đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” phạm vào khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự: Nội dung điều luật như sau:
“ 1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng …, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”
Do đó bị cáo phải chịu hình phạt mà điều luật đã quy định.
Xét tính chất hành vi phạm tội: Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, cụ thể là tài sản của chị Nhạn. Do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm đối với hành vi mà bị cáo đã gây ra.
Xét tình nhân thân bị cáo, các tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự nên không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội gây thiệt hại không lớn, tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại có đơn xim giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bố bị cáo được tặng huân chương. Vì vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, h, i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Sau khi xét hành vi, tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đề xuất mức hình phạt từ 9 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, bị cáo không có thu nhập ổn định. Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã trả lại cho bị hại đầy đủ, bị hại không có ý kiến nào khác.
Về vật chứng của vụ án: Không thu được vật chứng.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Khánh D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.
1. Xử phạt bị cáo Lê Khánh D 9 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 18 tháng tình từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo D cho UBND xã Đồng Liên, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên giám sát và giáo dục.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/QH ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.
Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND TP Thái Nguyên - VKSND tỉnh Thái Nguyên - Công an TP Thái Nguyên - CQ THAHS TP Thái Nguyên; - CCTHADS TP Thái Nguyên; - UBND nơi BC cư trú; - Bị cáo và người TGTT khác; - Lưu HS, Lưu VP | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Liên |