vanban.org

Bản án 171/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình Tuyên án 21/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Quách Đình Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Quách Đình Q 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 30/6/2023. Về án phí: Buộc bị cáo Quách Đình Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Quách Đình Q phạm tội “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Quách Đình Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 171/2023/HS-ST
Ngày: 21-9-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH - TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Văn Đức.

2. Bà Đặng Thị Việt Hoài.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Lan Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Bùi Q Dương – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 9 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 160/2023/HSST ngày 30 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 162/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:

Quách Đình Q, sinh ngày 20/8/1997, tại tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn S, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Quách Đình T và bà Bùi Thị H; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt để tạm giam từ ngày 30/6/2023 đến nay. Có mặt.

- Bị hại: Anh Cao Thanh H, sinh năm 1975; Nơi cư trú: ngõ Đ, tổ x, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Chị Vũ Thị T, sinh năm 1970; nơi cư trú: đường L, tổ y, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 28/6/2023, Quách Đình Q đi xe buýt từ nhà đến khu vực chợ B, thuộc địa phận tổ z, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình với mục đích ai có tài sản sơ hở thì trộm cắp. Khi Q đi đến Kiot số 13x, thấy khu vực đối diện với Kiot có để nhiều xe máy, xe điện không có khóa cổ, khóa càng và không có người trông coi. Q đi đến gần chiếc xe máy điện nhãn hiệu MOMENTIUM 133S, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 17MĐ9 - 007.xx đang dựng tại khu vực trước cửa hàng Kiot số 13x, chìa khóa của xe vẫn đang cắm ở trên ổ khóa. Q thấy xung quanh không có người liền đi lại ngồi lên yên xe máy điện và mở khóa điện điều khiển xe đi ra ngoài cổng chợ rồi đi tìm cửa hàng để bán. Đến khoảng 17 giờ ngày 28/6/2023 Q điều khiển xe đến nhà cửa hàng mua bán xe máy điện của chị Vũ Thị T. Q nói với chị T có chiếc xe mua từ thời đi học nay cần tiền nên muốn bán, do đi vội nên quên không cầm theo đăng ký xe sẽ cầm đăng ký xe lên đưa sau. Chị T đồng ý mua với giá 1.900.000 đồng, Q đã nhận đủ số tiền 1.900.000 đồng dùng để tiêu sài cá nhân hết. Sau khi bị mất tài sản, ngày 29/6/2023 anh Cao Thanh H đã đến Công an thành phố Thái Bình trình báo. Đến khoảng 15 giờ ngày 29/6/2023 Quách Đình Q tiếp tục đi xe buýt từ nhà lên khu vực chợ Bo, khi Q đang đi lang thang tại khu vực chợ B thì bị lực lượng Công an thành phố Thái Bình mời về trụ sở để làm việc và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã nêu trên.

- Kết luận định giá tài sản số 28/KL - HĐĐGTS ngày 30/06/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình kết luận: Giá trị tài sản tại thời điểm định giá tháng 06/2023 là 4.100.000 đồng.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận như trên. Lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Vũ Thị T thể hiện như lời khai của bị cáo.

Tại bản cáo trạng số 172/CT - VKSTPTB ngày 30/08/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố Quách Đình Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 50, điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/6/2023. Không đề nghị xử phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: không đặt ra giải quyết. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có tranh luận gì. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và còn được chứng minh bằng: Biên bản xác định vị trí địa điểm; Kết luận định giá tài sản số 28/KL-HĐĐGTS ngày 30/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự-Ủy ban nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; Kết luận giám định số 1054/KL- KTHS ngày 07/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Do thiếu tiền tiêu xài cá nhân, nên khoảng 16 giờ 00 phút ngày 28/6/2023, tại khu vực trước cửa Kiot 132, Chợ Bo, thuộc tổ 09, phường Bồ Xuyên, thành phố Thái Bình. Quách Đình Q có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu MOMENTIUM 133S, màu đỏ-đen, biển kiểm soát 17MĐ9 - 007.xx, số khung 621409823925; số máy 410CP10896S6 của anh Cao Thanh H mục đích để tiêu xài cá nhân. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 4.100.000 đồng (Bốn triệu một trăm nghìn đồng).

Như vậy hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Điều 173. Tội trộm cắp tài sản quy định: “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.” Vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, xâm phạm đến trật tự trị an xã hội và gây hoang mang cho quần chúng nhân dân trong việc quản lý tài sản. Bị cáo đã biết rõ việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo thì thấy: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào và được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là bị cáo đã khắc phục hậu quả; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; quy định tại điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có 04 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự quyết định mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điêu 173 Bộ luật Hình sự. Sau khi phạm tội bị cáo lại có ý định phạm tội tiếp nên cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ điều kiện giáo dục bị cáo và phòng người tội phạm chung. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng và trách nhiệm dân sự: 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu MOMENTIUM 133S, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 17MĐ9 - 007.xx là tài sản hợp pháp của anh Cao Thanh H. Ngày 04/07/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình đã trả lại cho anh Hải quản lý, sử dụng. Anh Cao Thanh H đã nhận lại chiếc xe điện trên và không có yêu cầu gì nên không đặt ra giải quyết.

Đối với chị Vũ Thị T: Khi mua chiếc xe máy điện của Q, chị T không biết tài sản do trộm cắp mà có, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý. Bị cáo đã tự nguyện trả lại chị Vũ Thị T số tiền 1.900.000 đồng mà chị T đã bỏ ra để mua xe, chị T đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu gì nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Quách Đình Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Quách Đình Q 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 30/6/2023.

3. Về án phí: Buộc bị cáo Quách Đình Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Quách Đình Q được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 21/9/2023. Anh Cao Thanh H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ