vanban.org

Bản án 171/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 04/08/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Cao P.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Cao P được ly hôn anh Nguyễn L. Về con chung: Giao hai con chung là Nguyễn Cao Linh My, sinh ngày 30/11/2018 và Nguyễn Cao Linh San, sinh ngày 09/02/2020 cho chị Cao P nuôi dưỡng đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ Phương - Linh"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Cao P.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:171/2023/HNGĐ-ST
Ngày 04-8-2023
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Vân

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Xuân Quyết

Bà Vũ Thị Minh Nguyệt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Khánh Sơn – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Ngày 04 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 190/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2023 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 165/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Cao P, sinh năm 1995; nơi ĐKHKTT: Số 10 lô 122 CN DH, phường DH, quậnLC, thành phố Hải Phòng; hiện cư trú tại: Beton House, Rhodes St, Sheffield, the United Kingdom, Vương quốc Anh; vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn L, sinh năm 1988; nơi cư trú: Số 1419 NGT, tổ 6,

phường Nam Hải, quận HA, thành phố Hải Phòng; vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai đã được hợp pháp hóa lãnh sự tại Vương quốc Anh, nguyên đơn là chị Cao P trình bày:

Chị Cao P và anh Nguyễn L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Tràng Cát, quận Hải An, thành phố Hải Phòng vào ngày 15/5/2018. Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau về tính cách khiến cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Đến tháng 9 năm 2022 chị P đi du học tại Anh nên tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách, đến nay mỗi người đều có cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai. Nay, chị P xác định tình cảm vợ chồng không còn, quan hệ vợ chồng không có khả năng hàn gắn nên chị xin ly hôn anh Linh.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Nguyễn Cao Linh My, sinh

ngày 30/11/2018 và Nguyễn Cao Linh San, sinh ngày 09/02/2020. Ly hôn, chị P đề nghị được nuôi 02 con, việc cấp dưỡng nuôi con, chị P tự thoả thuận với anh Linh, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai, bị đơn là anh Nguyễn L trình bày: Anh Linh thống nhất với lời khai của chị P về thời gian, điều kiện kết hôn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng, về con chung và tài sản chung. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, chị P đi Anh từ năm 2022 không về, vợ chồng không quan tâm đến nhau. Đến nay, anh Linh xét thấy vợ chồng không còn tình cảm, chị P có đơn xin ly hôn, anh Linh đồng ý. Về con chung anh Linh đồng ý giao 02 con chung cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con anh chị tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Do chị Cao P và anh Nguyễn L đề nghị không tiến hành hòa giải theo quy

định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án được.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết: Chị Cao P cư trú tại Anh có đơn đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn L hiện đang cư trú tại Hải Phòng. Căn cứ vào khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn là chị Cao P và bị đơn là anh Nguyễn L đều vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Cao P và anh Nguyễn L.

- Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Cao P và anh Nguyễn L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Tràng Cát, quận Hải An, thành phố Hải Phòng vào ngày 15/5/2018. Theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Xét thấy, trong thời gian chung sống giữa anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, lối sống, không hợp nhau về tính cách, năm 2022 chị P đi Anh không về dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ. Như vậy, xét mâu thuẫn của anh chị đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, việc chị P xin ly hôn với anh Linh và được anh Linh đồng ý là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Chị Cao P và anh Nguyễn L có 02 con chung là Nguyễn Cao Linh My, sinh ngày 30/11/2018 và Nguyễn Cao Linh San, sinh ngày 09/02/2020. Ly hôn anh chị thống nhất giao 02 con cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng. Xét đây là sự tự nguyện của anh chị nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao 02 con cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật là phù hợp với điều kiện thực tế, phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Về cấp dưỡng nuôi con anh chị tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Chị Cao P và anh Nguyễn L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Cao P là nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo của các đương sự: Chị Cao P và anh Nguyễn L

được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 207, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, khoản 1 Điều 273, điểm d khoản 1 Điều 469, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Linhquyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Cao P.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Cao P được ly hôn anh Nguyễn L.

2. Về con chung: Giao hai con chung là Nguyễn Cao Linh My, sinh ngày 30/11/2018 và Nguyễn Cao Linh San, sinh ngày 09/02/2020 cho chị Cao P nuôi dưỡng đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con chung, anh chị tự thoả thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Chị Cao P và anh Nguyễn L không yêu cầu Tòa án giải

quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Chị Cao P phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị P đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000012 ngày 20/6/2023 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Như vậy, chị Cao P đã nộp đủ án phí.

5. Về quyền kháng cáo của các đương sự:

Anh Nguyễn L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Chị Cao P được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Minh Nguyệt Đỗ Xuân Quyết

Vũ Thị Thanh Vân

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN

- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Nguyệt Minh Đỗ Xuân Quyết

Vũ Thị Thanh Vân

Cỡ chữ