vanban.org

Bản án 171/2023/HC-PT — Hành chính

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 25/05/2023 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/05/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Sửa toàn bộ án sơ thẩm.

Tuyên hủy Công văn số 1231/UBND-TNMT ngày 09/4/2020 của UBND thành phố B; Buộc UBND thành phố B thực hiện các thủ tục hành chính thu hồi, huỷ bỏ giá trị pháp lý Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 695402 do UBND thành phố B cấp cho ông Chu Ngọc H ngày 24/12/2008 và cấp lại Giấy CNQSDĐ cho hộ ông… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Người khởi kiện: Bà Chu Thị Kim H, sinh năm 1981; địa chỉ: thành phố B, tỉnh Đắk Lắk"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Sửa toàn bộ án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Luật Đất đai; Điều 115 Luật Tố tụng hành chính; Điều 116 Luật Tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 171/2023/HC-PT
Ngày: 25-5-2023
V/v: “Khiếu kiện hành vi hành chính
trong lĩnh vực quản lý đất đai”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Tồn

Các Thẩm phán:

ông Trương Công Thi

ông Nguyễn Tấn Long

- Thư ký phiên tòa: bà Văn Thị Mỹ Thảo; Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên toà: ông Phạm Tấn Ánh; Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 5 năm 2023, tại Điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và Điểm cầu thành phần tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, mở phiên tòa trực tuyến xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 14/2020/TLPT - HC ngày 07 tháng 10 năm 2020 về việc: “Khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”.

Do bản án hành chính sơ thẩm số 18/2020/HC-ST ngày 12-8-2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk bị kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2098/2023/QĐ-PT ngày 28 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:

* Người khởi kiện: Bà Chu Thị Kim H, sinh năm 1981; địa chỉ: thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Phạm Văn N, sinh năm 1975; địa chỉ: thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

* Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Lê Đại T - Chức vụ: Phó Chủ tịch UBND thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; địa chỉ: thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Huỳnh Nhật N

- Chức vụ: Chuyên viên Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố B; địa chỉ: thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Chu Đức H, sinh năm 1940 và bà Chu Thị H, sinh năm 1948; địa chỉ: thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

- Ông Chu Ngọc H, sinh năm 1984; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại phần Quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm số 92/2019/DS-ST ngày 24/10/2019 và Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án số 24/2019/QĐ-SCBSBA ngày 02/12/2019 của Toà án nhân dân thành phố B, tỉnh Đắk Lắk “Về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa: Nguyên đơn bà Chu Thị Kim H và bị đơn ông Chu Đức H, đã tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Chu Đức H, bà Chu Thị H với ông Chu Ngọc H được xác lập và công chứng ngày 24/10/2008 là vô hiệu (Hợp đồng công chứng số 341, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD); Kiến nghị UBND thành phố B thu hồi, huỷ bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có mã số AN 695402 đã cấp cho ông Chu Ngọc H ngày 24/12/2008 để cấp lại cho hộ ông Chu Đức H và bà Chu Thị H.

Sau khi bản án trên có hiệu lực pháp luật, bà Chu Thị Kim H, ông Chu Đức H và bà Chu Thị H đã nhiều lần làm đơn đề nghị UBND thành phố B thu hồi, huỷ bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số AN 695402 và cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Chu Đức H và bà Chu Thị H, nhưng không được Phòng Tài nguyên và Môi trường và UBND thành phố B giải quyết.

Ngày 09/4/2020, UBND thành phố B ban hành Công văn số 1231/UBND-TNMT, về việc trả lời cho ông Chu Đức H, bà Chu Thị H và bà Chu Thị Kim H với nội dung: Bản án số 92/2019/DS-ST ngày 24/10/2019 của Toà án nhân dân thành phố B chỉ tuyên huỷ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Chu Đức H, bà Chu Thị H với ông Chu Ngọc H, không tuyên huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 695402 do UBND thành phố B, cấp cho ông Chu Ngọc H ngày 24/12/2008. Theo đơn trình bày đề ngày 20/02/2020, ông Chu Ngọc H trình bày hiện nay bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 695402, ông Chu Ngọc H đã làm thất lạc; Mặt khác, ông Chu Ngọc H đang liên quan đến vụ án “Tham ô tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 22/2019/HSST ngày 06/5/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk; hiện nay, ông Chu Ngọc H đang kháng cáo đối với bản án số 22/2019/HSST ngày 06/5/2019. Do đó, UBND thành phố B chưa đủ cơ sở để xem xét huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 695402 đã cấp cho ông Chu Ngọc H.

Về yêu cầu khởi kiện theo đơn khởi kiện và theo trình bày của người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện là ông Phạm Văn Nghị như sau:

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 92/2019/DS-ST ngày 24/10/2019 của Toà án nhân dân thành phố B, đã nhận định Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất này vi phạm điều cấm của pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên trong hộ gia đình nên đã bị tuyên là vô hiệu. Như vậy, quyền sử dụng đất trên đương nhiên không thuộc về ông Chu Ngọc H kể từ thời điểm chuyển nhượng ngày 24/10/2008, nên việc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi tên ông Chu Ngọc H không còn giá trị pháp lý. Do đó, việc thu hồi, huỷ bỏ giá trị pháp lý Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 695402 chỉ là thủ tục hành chính phải làm và trách nhiệm thực hiện việc này thuộc về UBND thành phố B.

Nội dung Công văn số 1231/UBND-TNMT ngày 09/4/2020 của UBND thành phố B là không đúng pháp luật, vì vụ án hình sự đó không liên quan gì đến quyền sử dụng đất hợp pháp của gia đình ông Chu Đức H và bà Chu Thị H. Bản thân ông Chu Ngọc H cũng có đơn đề nghị UBND thành phố B giải quyết theo quyết định của Bản án số 92/2019/DS-ST ngày 24/10/2019 của Toà án nhân dân thành phố B.

Do đó, bà Chu Thị Kim H khởi kiện đề nghị Toà án giải quyết:

- Tuyên bố hành vi hành chính của UBND thành phố B về việc không thực hiện thủ tục thu hồi, huỷ bỏ giá trị Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 695402, số vào sổ cấp GCNQSDĐ số: H-02738 do UBND thành phố B cấp cho ông Chu Ngọc H ngày 24/12/2008 và cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Chu Đức H và bà Chu Thị H căn cứ Bản án sơ thẩm số 92/2019/DS-ST ngày 24/10/2019 của Toà án nhân dân thành phố B đã có hiệu lực pháp luật, là trái pháp luật;

- Tuyên hủy Công văn số 1231/UBND-TNMT ngày 09/4/2020 của UBND thành phố B;

- Buộc UBND thành phố B thực hiện các thủ tục hành chính thu hồi, huỷ bỏ giá trị pháp lý Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 695402 do UBND thành phố B cấp cho ông Chu Ngọc H ngày 24/12/2008 và cấp lại Giấy CNQSDĐ cho hộ ông Chu Đức H và bà Chu Thị H.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của UBND thành phố B và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện trình bày có nội dung như sau:

Ông Chu Ngọc H đang liên quan đến vụ án “Tham ô tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo bản án số 22/2019/HSST ngày 06/5/2019 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, bản án tuyên: “Xử phạt: Chu Ngọc H chung thân về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tử hình về tội “Tham ô tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội, buộc bị cáo Chu Ngọc H phải chấp hành là: Tử hình…; Buộc bị cáo Chu Ngọc H phải hoàn trả cho Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam số tiền 113.549.033.379 đồng.

Vì vậy, “… UBND thành phố B chưa đủ cơ sở để xem xét huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 695402 do UBND thành phố B cấp cho ông Chu Ngọc H”, là đúng quy định.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Chu Ngọc H, Chu Đức H và bà Chu Thị H. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Chu Thị Kim H.

Tại bản án hành chính sơ thẩm số 18/2020/HC-ST ngày 12/8/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, Điều 115, Điều 116, điểm c khoản 2 Điều 193 và Điều 206 của Luật Tố tụng hành chính;

Áp dụng: Điều 106 Luật Đất đai năm 2013; khoản 6 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai năm 2013; Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Chu Thị Kim H.

1. Tuyên bố hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân thành phố B về việc không thực hiện thủ tục thu hồi, hủy bỏ giá trị Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 695402, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: H-02738 do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp cho ông Chu Ngọc H ngày 24/12/2008 và cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Chu Đức H và bà Chu Thị H, là trái pháp luật.

2. Buộc Ủy ban nhân dân thành phố B thực hiện các thủ tục thu hồi, huỷ bỏ giá trị Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có mã số AN 695402 do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp cho ông Chu Ngọc H ngày 24/12/2008 và cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Chu Đức H và bà Chu Thị H theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra bản án còn quyết định về phần án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Nội dung kháng nghị

Ngày 21/8/2020, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk ra Quyết định Kháng nghị phúc thẩm số 811/QĐKNPT-VKS-ST theo hướng hủy toàn bộ Bản án hành chính sơ thẩm số 18/2020/HC-ST ngày 12/8/2020 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, theo thủ tục phúc thẩm. Đề nghị Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng huỷ bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án cấp sơ thẩm giải quyết thủ tục chung.

Ngày 07/10/2020, Viện Kiểm sát nhân dân Cấp cao tại Đà Nẵng ra Quyết định Kháng nghị phúc thẩm số 97/QĐKNGĐ-VKS-DS kháng nghị Giám đốc với bản án dân sự số 92/2019/DSST ngày 24/10/2019 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

Ngày 23/11/2020 Tòa án Cấp cao tại Đà Nẵng ra Quyết định tạm đình chỉ vụ án số 04/2020/QĐ-PT chờ kết quả giải quyết vụ án khác.

Ngày 05/7/2021. Quyết định Giám Đốc Thẩm số 35/2021/DS-GĐT. Huỷ toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 92/2019/DS-ST ngày 24/10/2019 của Toà án nhân dân thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân thành phố B, tỉnh Đắk Lắk để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm, đúng quy định của pháp luật.

Ngày 27/9/2022, Toà án nhân dân thành phố B xét xử dân sự sơ thẩm số 189/2022/DS-ST về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và huỷ chỉnh lý biến động” giữa: Nguyên đơn bà Chu Thị Kim H và đồng bị đơn ông Chu Đức H, bà Chu Thị H (đều đã chết), ông Chu Ngọc H, đã tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Chu Thị Kim H.

Ngày 11/4/2023, Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử dân sự phúc thẩm số 154/2023/DS-PT về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và huỷ chỉnh lý biến động” giữa: Nguyên đơn bà Chu Thị Kim H và bị đơn ông Chu Đức H, bà Chu Thị H (đều đã chết), ông Chu Ngọc H, đã tuyên xử:

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Chu Thị Kim H và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Chu Thị Minh, bà Chu Thị Kim Thanh, ông Chu Ngọc Anh.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 189/2022/DS-ST ngày 27/9/2022 của Toà án nhân dân thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng giữ nguyên quyết định kháng nghị. Tuy nhiên, bản án dân sự sơ thẩm số 189/2022/DS-ST ngày 27/9/2022 của Toà án nhân dân thành phố B, tỉnh Đắk Lắk đã bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện, do vậy hành vì hành chính không còn tồn tại nên đề nghị HĐXX cấp phúc thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của các đương sự và của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử xét thấy:

Xét kháng nghị phúc thẩm số 811/QĐKNPT-VKS-ST đối với Bản án hành chính sơ thẩm số 18/2020/HC-ST ngày 12/8/2020 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk thì thấy.

Do việc xét xử phúc thẩm vụ án hành chính thụ lý số: 14/2020/TLPT-HC ngày 07/10/2020 của TACC tại Đà Nẵng về việc “khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” có liên quan đến bản án dân sự sơ thẩm số 92/2019/DS-ST ngày 24/10/2019 của Toà án nhân dân thành phố B, tỉnh Đắk Lắk đã bị Viện Kiểm sát nhân dân Cấp cao tại Đà Nẵng Kháng nghị và tại Quyết định Giám Đốc Thẩm số 35/2021/DS-GĐT ngày 05/7/2021, UBTP-TACC tại Đà Nẵng Huỷ toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 92/2019/DS-ST.

Theo đó, Tại bản án DSST số 189/2022/DS-ST ngày 27/9/2022, Toà án nhân dân thành phố B. Tuyên xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Chu Thị Kim H về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và huỷ chỉnh lý biến động” giữa: Nguyên đơn bà Chu Thị Kim H và đồng bị đơn ông Chu Đức H. Do có kháng cáo của nguyên đơn nên ngày 11/4/2023, Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử dân sự phúc thẩm số 154/2023/DS-PT đã tuyên xử:

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Chu Thị Kim H và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Chu Thị Minh, bà Chu Thị Kim Thanh, ông Chu Ngọc Anh.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 189/2022/DS-ST ngày 27/9/2022 của Toà án nhân dân thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

Như vậy; Bà Chu Thị Kim H khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai đối với Uỷ ban nhân dân Thành phố B, tại bản án hành chính sơ thẩm số 18/2020/HC-ST ngày 12/8/2020 về việc “Khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” đối với người bị kiện Uỷ ban nhân dân thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, liên quan đến bản án dân sự sơ thẩm số 92/2019/DS-ST ngày 24/10/2019 không còn tồn tại, sự kiện pháp lý đã chấm dứt, nên HĐXX cấp phúc thẩm chấp nhận đề nghị của đại diện VKS tại phiên tòa, sửa toàn bộ án sơ thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Chu Thị Kim H.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 2 Điều 241 Luật TTHC và Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Sửa toàn bộ án sơ thẩm. Bác toàn bộ đơn khởi kiện của bà Chu Thị Kim H về việc. Tuyên bố hành vi hành chính của UBND thành phố B không thực hiện thủ tục thu hồi, huỷ bỏ giá trị Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 695402, số vào sổ cấp GCNQSDĐ số: H-02738 do UBND thành phố B cấp cho ông Chu Ngọc H ngày 24/12/2008 và cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Chu Đức H và bà Chu Thị H căn cứ Bản án sơ thẩm số 92/2019/DS-ST ngày 24/10/2019 của Toà án nhân dân thành phố B đã có hiệu lực pháp luật, là trái pháp luật;

- Tuyên hủy Công văn số 1231/UBND-TNMT ngày 09/4/2020 của UBND thành phố B;

- Buộc UBND thành phố B thực hiện các thủ tục hành chính thu hồi, huỷ bỏ giá trị pháp lý Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 695402 do UBND thành phố B cấp cho ông Chu Ngọc H ngày 24/12/2008 và cấp lại Giấy CNQSDĐ cho hộ ông Chu Đức H và bà Chu Thị H.

Án phí hành chính sơ thẩm và án phí hành chính phúc thẩm: bà H phải chịu nhưng được miễn do người cao tuổi.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ