- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản và tiêu thụ TS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. QUY NHƠN-TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 171/2022/HSST Ngày: 24/8/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Minh Hòa
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Ngọc
2. Bà Trương Thị Thu Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Thế Nữ Diệu Hiền là Thư ký Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Vân là Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 166/2022/TLST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 170/2022/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Trần Duy Tr, tên gọi khác: Không, sinh năm 1983 tại thành phố Quy Nhơn, Bình Định; Nơi cư trú: 334/30 đường T, KV 4, p. QT, thành phố Q, tỉnh B; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; tên cha: Trần Duy L (C), tên mẹ: Phạm Thị C, sinh năm 1949; Vợ: Lê Phương Thanh T (đã ly hôn), con: có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: 01 tiền sự: Ngày 19/7/2021 bị Công an phường Thị Nại, Tp. Quy Nhơn xử phat hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; Nhân thân: Ngày 04/3/2009, bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý - Công an tỉnh Bình Định xử phạt hành chính 350.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”; Ngày 10/5/2022, bị Cơ quan CSĐT Công an TP. Quy Nhơn khởi tố bị can về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/5/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Quy Nhơn, có mặt.
2. Nguyễn Hoàng Đức H, tên gọi khác: Không, sinh năm 1985 tại thành phố Quy Nhơn, Bình Định; Nơi cư trú: 116/2 đường C, phường N, thành phố Q, tỉnh B; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; tên cha: Nguyễn Đức T, sinh năm 1954, tên mẹ: Lê Thị Kim M, sinh năm 1960; Vợ: Nguyễn Thị Như, sinh năm 1985, có 01 con sinh năm 2007; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 28/8/2009, bị Toà án nhân dân tỉnh Bình Định xử phạt 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, chấp hành xong vào ngày 20/10/2010; Ngày 10/02/2011, bị Phòng CSĐTTP về ma tuý – Công an tỉnh Bình Định xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”, phạt tiền 750.000 đồng; Ngày 28/11/2012, bị Toà án nhân dân tỉnh Bình Định xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý ”, chấp hành xong vào ngày 09/02/2015; Ngày 03/6/2015, bị Công an TP. Quy Nhơn xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”, phạt tiền 1.000.000 đồng; Ngày 09/10/2020, bị Công an P. Nguyễn Văn Cừ, TP. Quy Nhơn xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”, phạt tiền 750.000 đồng; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; Có mặt.
- Bị hại:
1. Anh Hồ Văn H, sinh năm: 1964; trú tại: Tổ 20A, KP 2, phường QT, thành phố Q, tỉnh B; vắng mặt
2. Chị Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm: 1979; trú tại: 105/2 đường C, phường N, thành phố Q, tỉnh B; vắng mặt
3. Ông Nguyễn Đức Thi, sinh năm: 1958; trú tại: 11 đường T, phường N, thành phố Q, tỉnh B; vắng mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Phạm Thị C, sinh năm 1949; Trú tại: 334/30 đường T, KV 4, p. QT, thành phố Q, tỉnh B, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Để có tiền tiêu xài, Trần Duy Tr nảy sinh ý định điều khiển xe đạp (do mẹ của Tr là Phạm Thị C làm chủ sở hữu) đi dạo trên địa bàn TP.Quy Nhơn tìm cây cảnh người dân để sơ hở thì trộm cắp bán lấy tiền. Rạng sáng ngày 30/01/2022, Tr thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 02 giờ ngày 30/01/2022, Tr lái xe đạp đến dựng trên đường Nguyễn Thái Học, cách Viện sốt rét ký sinh trùng-côn trùng Quy Nhơn số 611B Nguyễn Thái Học, P. Nguyễn Văn Cừ, TP.Quy Nhơn khoảng 02 căn nhà rồi đi bộ quay lại Viện sốt rét. Trung quan sát thấy xung quanh vắng người, bảo vệ đã ngủ nên lén trèo qua hàng rào, đi bộ vào trong Viện sốt rét. Thấy 01 cây mai (dáng trực lắc, loại mai dảo có hoa 7-12 cánh, có 13 chi, hoành gốc 75cm, hoành thân 24cm, chiều cao từ gốc đến ngọn là 60cm, tàng ngang 01m) của anh Hồ Văn H đang đặt trên xe kéo nằm ở giữa khuôn viên sân Viện sốt rét, Trung lén nhổ cây này ra khỏi chậu rồi cầm cây trèo qua hàng rào ra bên ngoài rồi đem về nhà cất giấu. Đến khoảng 04 giờ cùng ngày, Trung gọi điện cho Nguyễn Hoàng Đức H hỏi có mua cây mai không thì H nói Tr mang cây đến cho H xem. Tr lái xe đạp chở cây mai trộm được của anh H đến trước nhà H rồi thỏa thuận bán với giá 400.000 đồng. H biết rõ cây mai này do Tr mới trộm cắp mà có nhưng vẫn đồng ý mua với giá 400.000 đồng. Tr có được tiền thì tiêu xài hết chỉ còn lại 90.000 đồng. Hiện Cơ quan điều tra đã tạm giữ số tiền 90.000 đồng.
Vụ thứ hai: Khoảng 02 giờ 30 phút cùng ngày, Tr lái xe đạp đến trước nhà của chị Nguyễn Thị Thanh Tr ở 105/2 đường C, phường N, thành phố Q, tỉnh B, thấy xung quanh không có người nên Trung lén nhổ 01 cây Hải Châu (dáng trực, cao 70cm, tàng rộng 50cm, có 02 thân xoắn vào nhau, đường kính mỗi thân 05cm) để trên khung kệ sắt trước cửa nhà chị Tr ra khỏi chậu rồi đem về nhà cất giấu.
Vụ thứ ba: Khoảng 03 giờ 20 phút cùng ngày, Tr lái xe đạp đến trước nhà ông Nguyễn Đức T ở số 11 đường T, P. Nguyễn Văn Cừ, TP. Quy Nhơn, thấy xung quanh không có người nên Tr dựng xe trên vỉa hè rồi lén trèo qua hàng rào vào trong sân nhà ông T, nhổ trộm 01 cây mai cúc (dáng bonsai, chiều cao từ gốc đến ngọn là 40cm, táng chi chưa hoàn thành) của ông T ra khỏi chậu rồi đem về nhà cất giấu.
Trong quá trình điều tra, Trần Duy Tr, Nguyễn Hoàng Đức H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Ngày 21/3/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự TP.Quy Nhơn kết luận:
- 01 cây mai dáng trực lắc, loại mai dảo có hoa 7-12 cánh, có 13 chi, hoành gốc 75cm, hoành thân 24cm, chiều cao từ gốc đến ngọn là 60cm, tàng ngang 01m, trị giá 18.000.000 đồng.
- 01 cây Hải Châu dáng trực, chiều dài cây từ gốc đến ngọn 70cm, tàng cây rộng 50cm, có 02 thân xoắn vào nhau, đường kính mỗi thân 5cm, trị giá 1.200.000 đồng.
- 01 cây mai cúc dáng bonsai, chiều cao từ gốc đến ngọn là 40cm, táng chi chưa hoàn thành, trị giá 1.500.000 đồng.
Về vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an TP. Quy Nhơn đã tạm giữ 01 xe đạp kiểu dáng mini Nhật màu xám xanh và đã trả lại cho Phạm Thị C; tạm giữ 01 cây mai dáng trực lắc và đã trả lại cho Hồ Văn H; tạm giữ 01 cây Hải Châu và đã trả lại cho Nguyễn Thị Thanh Tr; tạm giữ 01 cây mai cúc dáng bonsai và đã trả lại cho Nguyễn Đức T; tạm giữ 01 mũ lưỡi trai màu nâu và 90.000 đồng.
Về dân sự: Hồ Văn H, Nguyễn Thị Thanh Tr, Nguyễn Đức T đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
Bản Cáo trạng số 99/CT – VKSQN ngày 21 tháng 7 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn truy tố Trần Duy Tr về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS) và Nguyễn Hoàng Đức H về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các bị cáo Trần Duy Tr và Nguyễn Hoàng Đức H có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, Tr đã có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản nhưng vẫn tiếp tục thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản khác của 03 bị hại với tổng giá trị tài sản bị cáo Tr chiếm đoạt là 20.700.000 đồng. Bị cáo H biết 01 cây mai dáng trực mà bị cáo Tr đem bán là tài sản do bị cáo Tr trộm cắp nhưng vẫn đồng ý mua với giá 400.000 đồng nên Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố.
Bị cáo Trần Duy Tr được áp dụng tình tiết giảm nhẹ: “Thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội từ 02 lần trở lên” quy định tại điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Nguyễn Hoàng Đức H được áp dụng tình tiết giảm nhẹ: “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS, xử phạt bị cáo Trần Duy Tr từ 12 đến 18 tháng tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Đức H từ 06 đến 09 tháng tù.
Về phần Dân sự: các bị hại không yêu cầu bồi thường nên không xét.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 mũ lưỡi trai vì không có giá trị sử dụng. Truy thu 400.000 đồng tiền thu lợi bất chính của bị cáo Tr sung công quỹ Nhà nước. Tiếp tục tạm giữ 90.000 đồng của bị cáo Tr để đảm bảo thi hành án.
Đối với bà Phạm Thị C cho Trần Duy Tr sử dụng xe đạp nhưng bà C không biết Tr sử dụng xe này làm phương tiện phạm tội nên không xử lý hình sự đối với bà C là có căn cứ.
Các bị cáo không tự bào chữa.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, xin Tòa giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Quy Nhơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo Trần Duy Tr có sức khỏe, đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình, bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản nên biết rất rõ tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đều được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh nhưng vì tham lam, xem thường pháp luật nên đã lợi dụng đêm tối để đi trộm cắp tài sản. Vào rạng sáng ngày 30/01/2022, bị cáo Tr đã có hành vi sử dụng xe đạp của mẹ ruột (bà Phạm Thị C) đi dạo trên địa bàn thành phố Quy Nhơn để tìm ai sơ hở tài sản mà trộm cắp, bị cáo đã lén lút lấy trộm 01 cây mai dáng trực của anh Hồ Văn H trị giá 18.000.000 đồng, 01 cây Hải Châu trị giá 1.200.000 đồng và 01 cây mai cúc trị giá 1.500.000 đồng, tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 20.700.000 đồng. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.
Bị cáo Nguyễn Hoàng Đức H có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ cây mai dáng trực mà bị cáo Tr mang đến bán là tài sản do Tr trộm cắp mà có nhưng vì bị cáo H thấy cây mai dáng đẹp, bị cáo Tr bán rẻ nên đã mua với số tiền là 400.000 đồng nên bị cáo đã phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 323 BLHS.
Hành vi của các bị cáo Tr và H là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo Tr xâm phạm đến tài sản của người khác, hành vi của bị cáo H xâm phạm đến trật tự công cộng, tiếp tay cho tội phạm, các bị cáo gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội ở địa phương nên cần xử lý nghiêm. Các bị cáo đều có nhân thân xấu, bị cáo Tr còn bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 51 BLHS. Vì vậy cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa mới có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung đối với xã hội.
Tại cơ quan Điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Tr, H khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; cha bị cáo Tr là người có công với cách mạng, bản thân bị cáo cũng đã chấp hành xong nghĩa vụ quân sự nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 BLHS. HĐXX cân nhắc xử các bị cáo với mức án có lý, có tình vừa bảo đảm đảm tính giáo dục riêng đối với từng bị cáo vừa đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
Đối với bà Phạm Thị C cho Trần Duy Tr sử dụng xe đạp nhưng bà C không biết Tr sử dụng xe này làm phương tiện phạm tội nên không xử lý hình sự đối với bà C là có căn cứ.
Bồi thường thiệt hại: các bị hại Hồ Văn H, Nguyễn Thị Thanh Tr, Nguyễn Đức T đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xét.
Về xử lý vật chứng và truy thu nộp vào Ngân sách Nhà nước:
- Tịch thu tiêu hủy đồ vật không còn giá trị sử dụng: 01 (một) mũ lưỡi trai màu nâu, bên trái mũ có thêu ba đường chỉ trong đó có hai đường chỉ màu xanh và 01 đường chỉ màu đỏ ở giữa, trên ba đường chỉ thêu dòng chữ “GUCCI” màu nâu, đã qua sử dụng. (Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 26/7/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Quy Nhơn)
- Tạm giữ số tiền 90.000 (chín mươi nghìn) đồng tiền thu lợi bất chính của bị cáo Trung để đảm bảo thi hành án (số tiền hiện đang tạm giữ tại Kho bạc Nhà nước Bình Định, tài khoản số 3949.0.1054089 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Quy Nhơn theo ủy nhiệm chi ngày 28/7/2022)
- Truy thu của bị cáo Trần Duy Tr số tiền 400.000 (Bốn trăm nghìn) đồng tiền thu lợi bất chính để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Về án phí: Bị cáo Trần Duy Tr bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo Nguyễn Hoàng Đức H bị kết án về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” nên các bị cáo Trung, Huy phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về tội danh:
1.1 Tuyên bố bị cáo Trần Duy Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
1.2 Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng Đức H phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
2. Về hình phạt:
2.1 Xử phạt bị cáo Trần Duy Tr 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 16/5/2022;
2.2 Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Đức H 06 (sáu) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng và truy thu nộp vào Ngân sách Nhà nước:
3.1 Tịch thu tiêu hủy đồ vật không còn giá trị sử dụng: 01 (một) mũ lưỡi trai màu nâu, bên trái mũ có thêu ba đường chỉ trong đó có hai đường chỉ màu xanh và 01 đường chỉ màu đỏ ở giữa, trên ba đường chỉ thêu dòng chữ “GUCCI” màu nâu, đã qua sử dụng. (Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 26/7/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Quy Nhơn)
3.2 Tạm giữ số tiền 90.000 (chín mươi nghìn) đồng tiền thu lợi bất chính của bị cáo Tr để đảm bảo thi hành án (số tiền hiện đang tạm giữ tại Kho bạc Nhà nước Bình Định, tài khoản số 3949.0.1054089 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Quy Nhơn theo ủy nhiệm chi ngày 28/7/2022).
3.3 Truy thu của bị cáo Trần Duy Tr số tiền 400.000 (Bốn trăm nghìn) đồng tiền thu lợi bất chính để nộp vào ngân sách Nhà nước.
4. Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại địa phương nơi cư trú.
Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Định; - VKSND Tp. Quy Nhơn; - Chi cục THADS Tp. Quy Nhơn; - CQ CSĐT CA Tp. Quy Nhơn; - Đội ĐTTH CA Tp. Quy Nhơn; - Đương sự; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Văn Thị Minh Hòa |