- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thúy Vi - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Thúy V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 171/2022/HS-ST Ngày: 22 - 11- 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Hân
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Thanh Liêm
Bà Vũ Thị Mỹ Linh
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đình Chưởng– Là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Vện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Trương Ngọc Kiển - Kiểm sát Vên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 148/2022/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 151/2022/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:
Phạm Thúy V; sinh năm 2001; Nơi thường trú: Ấp C, xã Đ, thành phố C, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở hiện nay: Ấp V, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 1/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Vệt Nam; Con ông Phạm Văn D và bà Nguyễn Hồng C; Anh, chị em ruột: 02 người (lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất tên Phạm Thúy L, sinh năm 2009); Chồng: Trương Văn K; Con: 02 người, lớn nhất tên Trương Bé T, sinh năm 2020, nhỏ nhất tên Trương Gia N, sinh năm 2022; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Tốt; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cứ trú từ ngày 13/5/2022 cho đến nay. Có mặt
Bị hại: Bà Trần Kiều D, sinh năm 1989. Địa chỉ: Ấp V, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau. (vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1995. Địa chỉ: Ấp C, xã Đ, thành phố C, tỉnh Cà Mau. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 05/3/2022, Phạm Thúy V đang đi bộ ngang qua tiệm làm tóc của bà Trần Kiều D. V quan sát thấy không có ai trông coi tiệm nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. Lúc này, V mở cửa rồi vào bên trong tiệm và quan sát phát hiện có 02 điện thoại di động trên đầu tủ tivi, nên V đến lấy trộm 01 điện thoại di động (màn hình cảm ứng) rồi nhanh chóng đi ra ngoài. V ra đến ghế đá phía trước tiệm ngồi và mở máy điện thoại vừa chiếm đoạt được nhưng không khởi động được do bị hư hỏng. Sau đó, V cầm điện thoại hư hỏng vào trong tiệm đặt vào vị trí cũ, rồi tiếp tục lấy trộm 01 điện thoại đi động hiệu OPPO A15S, màu xanh đang đặt trên đầu tủ tivi và nhanh chóng rời khỏi tiệm.
Sau khi chiếm đoạt được điện thoại đi động của bà D, V đi bộ đến cửa hàng điện thoại di động Thanh T Mobile tại ấp C, xã Đ, thành phố C cầm với giá 1.000.000 đồng.
Đối với bà Trần Kiều D, sau khi phát hiện bị mất trộm điện thoại di động, nên kiểm tra camera an ninh thì phát hiện có 01 người phụ nữ lén lút vào tiệm lấy trộm điện thoại di động, bà D đến Công an xã Tân Thành, thành phố Cà Mau trình báo sự Vệc.
Ngày 05/3/2022, Công an xã Định Bình, thành phố Cà Mau đã thu hồi 01 điện thoại di động hiệu OPPO A15S, màu xanh tại cửa hàng điện thoại di động Thanh T Mobile.
Tại kết luận định giá tài sản số 29/KL-HĐĐGTS ngày 05/5/2022, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cà Mau, kết luận: Tại thời điểm ngày 05/3/2022, 01 điện thoại di động OPPO A15S, Ram 4GB, bộ nhớ trong 64GB, màn hình 6.52inch, đã qua sử dụng, giá trị còn lại là 3.861.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 145/CT-VKS ngày 30/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau truy tố bị cáo Phạm Thúy V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Thúy V phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Thúy V từ 06 tháng đến 09 tháng tù, cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu cầu bồi thường gì thêm, nên không đặt ra xem xét.
Vật chứng của vụ án: Tài sản bị chiếm đoạt đã trả lại cho bị hại, nên không đặt ra xem xét.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành V phạm tội đúng như Cáo trạng đã nêu, Cáo trạng truy tố đối với bị cáo là đúng, không oan sai. Lời nói sau cùng, bị cáo không có ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau, Điều tra Vên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, Kiểm sát Vên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Đối với bị hại bà Trần Kiều D; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Thanh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng bà D vẫn vắng mặt không rõ lý do, còn anh T có đơn xin vắng mặt. Xét thấy, Vệc giải quyết vắng mặt của bà D, anh T không ảnh hưởng đến nội dung xét xử vụ án nên căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà D, anh T theo luật định.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận: Vào ngày 05/3/2022, tại ấp 5, xã Tân Thành, thành phố Cà Mau, bị cáo lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động OPPO A15S, trị giá 3.861.000 đồng của bị hại Trần Kiều D. Xét lời khai nhận của bị cáo là có căn cứ, bởi phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra, kết luận định giá và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau truy tố bị cáo Phạm Thúy V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Thúy V là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì muốn có tiền tiêu xài, bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở trong Vệc quản lý, trông coi tài sản của chủ sở hữu nên đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Ngoài ra, hành vi của bị cáo còn gây mất an ninh trật tự, gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần có mức án thật nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi bị cáo đã gây ra nhằm để răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng chống tội phạm.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo hiện đang nuôi 02 con nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Do đó, xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của Vện kiểm sát là có căn cứ.
Xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, là người có nhân thân tốt, không tiền án, không tiền sự nên cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình. Xét thấy, không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, mà áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo trong môi trường hoà nhập cộng đồng, việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Như thế vẫn đảm bảo tính giáo dục, răn đe đối với bị cáo, đồng thời thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện để bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho cho xã hội.
Vật chứng của vụ án: Tài sản bị chiếm đoạt đã trả lại cho bị hại, bị hại không yêu cầu gì thêm. Nên không đặt ra xem xét là có căn cứ.
Trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét là có căn cứ.
Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải nộp theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên bố bị cáo Phạm Thúy V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Phạm Thúy V 06 (sáu) tháng tù, cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm, thời hạn tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Tân Thành, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Phạm Thúy V phải nộp 200.000 đồng (chưa nộp). Nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau, khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Bị cáo;Bị hại;Người liên quan; - VKSND Thành phố Cà Mau; - VKSND t nh Cà Mau; - T ND t nh Cà Mau; - Cơ quan i u tra C ND T Cà Mau; - Cơ quan T H Dân s T Cà Mau; - Cơ quan T H H nh s T Cà Mau; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ngọc Hân |