- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Nghe - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn N phạm tội “Giết người”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 123 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 171/2022/HS-ST Ngày: 28-12-2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm Phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Nam Phương.
Thẩm phán: Hoàng Thị T2 Minh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hoàng Trung.
2. Bà Lê Thị Huế.
3. Bà Nguyễn Thị Ngọc Hiệp.
Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Lê Quốc Bình - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai: Ông Phạm Minh Tuấn - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 22 và 28 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 179/2022/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 178/2022/QĐXXST ngày 08 tháng 12 năm 2022, đối với bị cáo:
Trần Văn N (tên gọi khác: Không), sinh ngày 02/02/1973, tại Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú: thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở hiện nay: Như trên; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Chức vụ (Đảng, chính quyền): Không; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Con ông Trần Văn T, đã chết và bà Mai Thị H, sinh năm 1939; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba; Có vợ là Lê Thị Hồng H1, sinh năm 1973 (đã ly hôn), có 02 con, lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 1997. Sau đó, kết hôn với Đỗ Thị Quế A, sinh năm 1973, chưa có con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Đầu thú ngày 23/7/2022, chuyển tạm giam theo lệnh tạm giam số: 295/LTG-CSĐT-Đ4 ngày 29/7/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Nai.
Người bào chữa theo chỉ định của bị cáo có: Luật sư Nguyễn Thị Kim Uyên – T2ộc Văn phòng luật sư Dương Văn Ổn – Đoàn luật sư Tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: 9/1, khu phố 1, phường Bình Đa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Người bào chữa theo yêu cầu của bị cáo: Luật sư Nguyễn Như Tuấn, T2ộc Công ty TNHH MTV Dũng Tuấn Khang - Đoàn luật sư Tỉnh Đồng Nai
Địa chỉ: Công ty luật TNHH MTV Dũng Tuấn Khang, đường Nguyễn Du, tổ 2, khu phố 4, phường Quang Vinh, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Người bị hại: Đào Thanh P, sinh năm 1980. (chết)
Người đại diện hợp pháp của bị hại gồm: Ông Đào Văn P1, sinh năm 1958; Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1960 và Chị Trần Kim L1, sinh năm 1990.
Người đại diện theo ủy quyền của ông P1, bà T2: Chị Trần Kim L1, sinh năm 1990.
Cùng địa chỉ: 634B, khu phố 2, phường An Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Người làm chứng:
1. Ông Võ Thanh H, sinh năm 1986.
Địa chỉ: thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
2. Ông Phạm Thành L, sinh năm 1978.
Địa chỉ: phường Long Bình, thành phố Thủ Đức.
3. Bà Nguyễn Thị Thanh Th, sinh năm 1986.
Địa chỉ: thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
4. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1974.
Địa chỉ: thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
5. Ông Nguyễn Ngọc Th1, sinh năm 1967.
Địa chỉ: thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
6. Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1960.
Địa chỉ: thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
(Bị cáo N, Luật sư Nga, Luật sư Tuấn, chị Trần Kim L1 là đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại Đào Thanh P, người làm chứng bà T2 có mặt; Những người làm chứng khác vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ 30 P1t ngày 21/7/2022, Trần Văn N cùng anh Đào Thanh P, sinh năm: 1980, thường trú tại tỉnh Đồng Nai; anh Võ Thanh H, sinh năm: 1986, thường trú tại khu phố 1, phường Hóa An, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai; chị Nguyễn Thị Thanh Th, sinh năm: 1986, thường trú tại số thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai; anh Nguyễn Văn Hùng, sinh năm: 1974, thường trú tại số thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và anh Phạm Thành L, sinh năm: 1978, thường trú tại Long Sơn, phường Long Bình, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh, cùng uống bia tại quán ốc 40, địa chỉ thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Trong lúc uống bia, N biết anh P chơi đánh bạc bằng hình thức đá gà trên mạnh Internet nên khuyên anh P không chơi đánh bạc. Sau khi được khuyên ngăn, anh P có lời lẽ thiếu tế nhị với N. Do bực tức nên N đã đứng dậy cầm ly thủy tinh dùng uống bia trên tay phải đánh 01 cái trúng vào đầu anh P làm chiếc ly bị bể gây thương tích cho anh P, N cũng bị thương ở các ngón tay cái, ngón tay trỏ, ngón tay giữa và ngón tay áp út của bàn tay phải. Anh P tiếp tục cự cãi, N tiếp tục lấy ly thủy tinh khác đánh trúng vào đầu anh P thì được chị Thảo can ngăn, còn anh P được anh L đưa về nhà.
Đến 18 giờ cùng ngày, anh P đau đầu, nôn ói và được đưa đi cấp cứu tại các Bệnh viện Shing Mark rồi chuyển Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai. Đến 00 giờ 30 P1t ngày 23/7/2022, anh P tử vong. Biết anh P tử vong nên Trần Văn N đến Công an phường Long Bình Tân, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Tại Cáo trạng số: 5680/CT-VKS-P2 ngày 25 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Trần Văn N tội “Giết người”, quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và khẳng định cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Giết người” phạm vào điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự, bị cáo thành khẩn nhận tội, ra đầu thú, gia đình đã bồi thường 570.000.000đ cho gia đình bị hại, bị cáo xin giảm án, đại diện hợp pháp bị hại có đơn xin bãi nại và giảm án cho bị cáo.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát: Khẳng định cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo Trần Văn N về tội “Giết người” phạm vào điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là đúng, bị cáo đã nhận tội, ăn năn hối cải, đã bồi thường cho gia đình bị hại 570.000.000đ, đại diện hợp pháp của bị hại đã xác nhận việc nhận tiền có đơn xin bãi nại và giảm án cho bị cáo. Đề nghị xử lý bị cáo mức án từ 13 đến 15 năm tù.
Luật sư bào chữa cho bị cáo:
- Luật sư Nguyễn Thị Kim Uyên: Nhân thân bị cáo tốt, tác động gia đình bồi thường cho gia đình bị hại 570.000.000đ được gia đình bị hại có đơn xin bãi nại và xin giảm án.
- Luật sư Nguyễn Như Tuấn: Bị cáo và bị hại là tình chú cháu, bị cáo khuyên can bị hại không đánh bài, do đã có uống rượu không kiềm chế được bản thân nên lỡ tay dẫn đến hậu quả bị hại chết, bị cáo đã đầu thú ăn ăn hối cải, khai báo thành khẩn, đã bồi thường toàn bộ cho gia đình bị hại 570.000.000đ được đại diện bị hại bãi nại, xin giảm án, đề nghị Hội đồng xét xử xử bị cáo mức án thấp hơn mức án Viện kiểm sát đề nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân và trong quá trình xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về nội dung vụ án:
Vào khoảng 15 giờ 30 P1t ngày 21/7/2022, trong lúc cùng uống bia tại quán ốc 40, tại 40A/11,khu phố Long Điềm, phường Long Bình Tân, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai thì bị cáo Trần Văn N khuyên ngăn Đào Thanh P không chơi đánh bạc nên N và P đã xảy ra mâu T2ẫn cãi nhau, N cầm ly thủy tinh đánh vào đầu anh P làm cho ly thủy tinh bị vỡ, N cũng bị thương ở bàn tay phải. Hai bên tiếp tục cự cãi, bị cáo N lấy ly thủy tinh khác đánh trúng đầu của anh P thì được can ngăn. Anh P về nhà và được người nhà đưa đi cấp cứu thì từ vong tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Đồng Nai.
Căn cứ vào lời khai bị cáo, lời khai các nhân chứng có mặt tại hiện trường vụ án thì mâu T2ẫn của bị cáo và bị hại không lớn, bị hại hoàn toàn không đánh bị cáo mà bị cáo hoàn toàn chủ động dùng ly thủy tinh uống bia tấn công bị cáo đánh vào vùng đầu là vùng nguy hiểm dể bị tổn thương và nguy hiểm đến tính mạng và thực tế hành vi của bị cáo dẫn đến bị hại tử vong. Hành vi trên thể hiện tính côn đồ, hung hãn của bị cáo. Phạm vào tội “Giết người” qui định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội xâm phạm tính mạng người khác trái pháp luật nên cần xử bị cáo mức án tương xứng nhằm cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình phạt cũng xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo.
Về trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Không
Tình tiết giảm nhẹ: Ra đầu thú, thành khẩn khai báo, nhân thân tốt chưa tiền án, tiền sự, đã bồi thường cho gia đình bị cáo 570.000.000đ đại diện hợp pháp bị hại có đơn xác nhận bãi nại và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo .
Về trách nhiệm dân sự:
Gia đình bị cáo đã bồi thường 3 lần tổng cộng 570.000.000đ cụ thể: 150.000.000đ tiền mai tang phí, 150.000.000đ tiền tổn thất tinh thần và 270.000.000đ tiền trợ cấp nuôi 02 con bị hại đến 18 tuổi. Tại Tòa đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường nữa.
Ý kiến của Viện kiểm sát phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo theo luật định: Luật sư đề nghị xem xét giảm án cho bị cáo bởi bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo theo yêu cầu: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm án cho bị có do bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự phù hợp với nhận định Hội đồng xét xử. Riêng luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xử mức án thấp hơn đề nghị của Viện kiểm sát là không có cơ sở nên không được chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm n, khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Trần Văn N phạm tội “Giết người”.
Xử phạt bị cáo Trần Văn N 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/7/2022.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về hướng dẫn mức T2, miễn, giảm, T2, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo theo luật định.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Đồng Nai (1); - VKSND cấp cao tại TP.Hồ Chí Minh (1); - Trại tạm giam công an tỉnh Đồng Nai (1); - Bị cáo (1); - Luật sư (1); - Phòng hồ sơ - Công an tỉnh Đồng Nai (1); - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai (1); - Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Đồng Nai (1); - Phòng Thi hành án hình sự Tòa án tỉnh (1); - Cục thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai (1) - Lưu hồ sơ (4). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Nam Phương |