- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức L - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 318 Bộ luật Hình sự; Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH [ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 171/2022/HS-PT Ngày: 28.9.2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình
Các Thẩm phán: Ông Lê Văn Duy
Bà Nguyễn Thị Hoài Xuân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thanh Việt - Thư ký TAND tỉnh Bình Định
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Bà
Nguyễn Thị Tú Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 137/2022/TLPT-HS ngày 24 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Đức L do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức L đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 62/2022/HS-ST ngày 24 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân thị xã Z, tỉnh Bình Định.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Đức L, sinh ngày 25 tháng 9 năm 1999 tại Bình Định; nơi cư trú: Khu phố X, phường Y, thị xã Z, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông R, sinh năm 1964 và bà S, sinh năm 1967; có vợ: X, sinh năm 2002 và có 01 con sinh năm 2021; tiền án: Ngày 26/01/2020, bị Tòa án nhân dân thị xã Z xử phạt 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”, bị cáo chưa chấp hành xong hình phạt; tiền sự: Không; bị cáo đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
E có mâu thuẫn với F, nên F nhắn tin tối ngày 14/6/2021 đánh nhau. E kể lại sự việc cho G, Nguyễn Đức L và nhờ L tham gia đánh nhau với nhóm F.
Khoảng 14 giờ ngày 14/6/2021, H, I, K, M, N, G, H, L và E tổ chức ăn tiệc. E nói với L, nhóm F hẹn đến 19 giờ gặp để đánh nhau. Sau đó, E và G xuống biển phường Y, L về nhà lấy 01 dao tự tạo. Khoảng 18 giờ 20 phút cùng ngày, L trở lại phòng trọ của H, nói cho I, H, K, M, N: “Đám L xuống trường P hẹn đánh nhau”. Khi E đang ở bãi biển TC, F nhắn tin thách thức. E gọi điện kể lại cho L nghe thì L bảo E và G quay lại phòng trọ tập hợp lực lượng. Tại phòng trọ, G mua xăng đổ vào 03 vỏ chai bia HL, nhét khẩu trang y tế vào miệng chai làm dây dẫn cháy. L đem theo 01 dao tự tạo cùng H, M, K gọi taxi đi; I điều khiển xe biển kiểm soát 77C1-751.65 chở G ngồi sau cầm 03 chai bom xăng và gác 01 gậy bóng chày kim loại ở chân xe; N điều khiển xe mô tô chở E ngồi sau ôm theo 01 két nhựa đựng 21 vỏ chai bia HL. Cả nhóm ra Quốc lộ 1A mới đi theo hướng xã K.
Tại trụ sở thôn M, xã N, huyện L, F tập trung lực lượng gồm: A, B, C, D để xuống K đánh nhau. F điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 77X9-1473 chở D đến đường Tây tỉnh lấy 01 dao cán dài, 01 mác cất giấu trước đó, A chuẩn bị 01 cây dũ 03 khúc. Sau đó, A nhắn tin cho Q nói sự việc và hẹn gặp Q trước cổng trường THPT P. Trước đó, A rủ X, Từ Y, Z đi dạo mát nên X, Y, Z không biết đi đánh nhau. Trên đường đi, Phát nhặt 01 dao tự tạo hình lưỡi cưa của hộ dân ven đường. Đến 19 giờ cùng ngày, cả nhóm đứng trước tường rào phía Nam trường THPT P để chờ nhóm của E.
Khoảng 19 giờ 15 phút cùng ngày, nhóm của E đến gần khu vực trường THPT P. Xe I chở G đi trước cách xe taxi chở L, H, M, K khoảng 10m, xe N chở E ghé đổ xăng tới sau. Khi thấy nhóm F đang tụ tập thì G ngồi trên xe mô tô châm lửa, ném 02 chai bom xăng xuống đường cách nhóm F 02m gây cháy rồi tiếp tục đi thẳng về hướng Nam. Nhóm F bỏ chạy vào nhà hộ dân U gần đó. I quay xe lại, G tiếp tục châm lửa ném chai bom xăng còn lại vào trước cổng nhà anh U. Xe taxi dừng tại, L cầm dao tự tạo cùng với H, M, K xuống xe chạy theo G nhưng không tìm thấy nhóm của F. Sau đó, nhóm L điều khiển xe về lại phòng trọ của H, rồi giải tán.
Hậu quả: Hai nhóm tụ tập, mang theo hung khí, gây ra đám cháy phát sáng trước đoạn đường của trường học THPT P làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự công cộng.
Ngày 30/6/2021, Công an xã K lập biên bản vi phạm hành chính đối với nhóm của Nguyễn Đức L và nhóm của F về hành vi “cất giấu trong người, đồ vật, phương tiện giao thông các loại dao, búa, các loại công cụ, phương tiện khác thường dùng trong lao động, sinh hoạt hằng ngày nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích cho người khác” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 5 Nghị định 167 thì phát hiện Nguyễn Đức L đang chấp hành thời gian thử thách của án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo bản án hình sự số 22/2021/HS-ST ngày 26 tháng 01 năm 2021 của TAND thị xã Z.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 62/2022/HS-ST ngày 24 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân thị xã Z đã quyết định:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 318, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 56 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức L 12 (mười hai) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, tổng hợp hình phạt 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 22/2021/HS-ST ngày 26 tháng 01 năm 2021 của Tòa án nhân dân thị xã Z, tỉnh Bình Định, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 42 (bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 13/3/2020 đến ngày 27/11/2020.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.
- Ngày 06.6.2022, bị cáo Nguyễn Đức L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên đề nghị quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, giảm hình phạt cho bị cáo L 03 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Bị cáo Nguyễn Đức L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên HĐXX căn cứ Điều 351 BLTTHS vẫn tiến hành xét xử phúc thẩm.
HĐXX xét thấy: Bị cáo Nguyễn Đức L có hành vi cùng với nhóm của E chuẩn bị hung khí đánh nhau với nhóm của F. Hai nhóm tụ tập, mang theo hung khí, gây ra đám cháy phát sáng trước đoạn đường của trường học THPT P làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự công cộng. Nhóm của E và nhóm của F đã bị xử lý hành chính về hành vi “cất giấu trong người, đồ vật, phương tiện giao thông các loại dao, búa, các loại công cụ, phương tiện khác thường dùng trong lao động, sinh hoạt hằng ngày nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích cho người khác”. Riêng bị cáo Nguyễn Đức L có tiền án về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng” là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2] Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức L trong hạn luật định nên chấp nhận.
Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức L, HĐXX thấy rằng: Cấp sơ thẩm đã xem xét toàn bộ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Đức L 01 năm tù là phù hợp với các quy định của pháp luật. Do đó không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn Thích.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức L, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 318, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 56 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức L 12 (mười hai) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, tổng hợp hình phạt 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 22/2021/HS-ST ngày 26 tháng 01 năm 2021 của Tòa án nhân dân thị xã Z, tỉnh Bình Định, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 42 (bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 13/3/2020 đến ngày 27/11/2020.
2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức L phải chịu 200.000đ án phí HSPT.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT1-TANDTC - VKSND tỉnh Bình Định; - CQHSNVCSCA tỉnh Bình Định; - TA, VKS, CQĐT CA TX. Z; - Cơ quan THAHS TX. Z; - Chi cục THADS TX. Z; - Sở tư pháp tỉnh Bình Định, - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Bình |