vanban.org

Bản án 171/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Trúc L.

Về hôn nhân: Không công nhận bà Nguyễn Thị Trúc L và ông Thái Minh C là vợ chồng. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Trúc Lvà ông Thái Minh C có 03 con chung tên Thái Lan Th, sinh năm 1991; Thái Nhật H, sinh năm 1993; Thái Công M, sinh năm 2000. Hiện cả ba người con đã trưởng thành nên không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Thị Trúc L xin ly hôn với ông Thái Minh C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Trúc L.
  • Căn cứ chính? Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP Hướng…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:171/2022/HNGĐ-ST
Ngày 20 - 7 - 2022
“V/v xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Huyền Trân Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Dân.

Ông Ngô Hoàng Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đình Chưởng – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cà Mau.

Ngày 20 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 360/2022/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2022 về việc “Xin ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:212/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Trúc L, sinh năm 1972 (có mặt).

Nơi cư trú: Số 52, ấp CN, xã HT, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Thái Minh C, sinh năm 1972 (có mặt).

Nơi cư trú: Số 52, ấp CN, xã HT, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị Trúc L là nguyên đơn trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Thái Minh C chung sống với nhau vào năm 1990, có tổ chức đám cưới, gả theo phong tục tập quán nhưng không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẩn nguyên nhân do ông C có người phụ nữ khác ở bên ngoài, nhiều lần xúc phạm danh dự bà nên vào năm 2015 bà đã nộp đơn ly hôn với ông C. Nhưng do ông C cam đoan sẽ sửa chữa nên bà rút đơn khởi kiện. Sau khi rút đơn khởi kiện về chung sống ông C vẫn không thay đổi nay bà xét thấy không thể tiếp tục chung sống với ông công được nữa bà yêu cầu được ly hôn với ông C.

Về con chung: Bà và ông C có 03 con chung tên Thái Lan Th, sinh năm 1991; Thái Nhật H, sinh năm 1993; Thái Công M, sinh năm 2000. Hiện nay các con đã trưởng thành tự lao động sinh sống được nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Bà L xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà L xác định không nợ ai cũng không ai nợ lại ông, bà.

Tại phiên tòa ông Thái Minh C là bị đơn trình bày:

Về hôn nhân: Ông và bà L sống chung với nhau vào năm 1990, không đăng ký kết hôn đúng như bà L trình bày, nay ông xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống được nữa nên bà L yêu cầu ly hôn ông cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà L.

Về con chung: Ông và bà L 03 con chung tên Thái Lan Th, sinh năm 1991; Thái Nhật H, sinh năm 1993; Thái Công M, sinh năm 2000. Hiện các con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Ông C xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Ông xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn có nơi cư trú tại thành phố Cà Mau nên vụ án được xác định thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Trúc L và ông Thái Minh C tự nguyện chung sống với nhau vào năm 1990 nhưng không đăng ký kết hôn mặc dù có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật. Do đó, hôn nhân giữa bà L và ông C đã vi phạm pháp luật về mặt hình thức. Quá trình chung sống cả bà Lvà ông C đều xác định giữa vợ chồng có nhiều mâu thuẩn, không thể tiếp tục chung sống và thống nhất ly hôn nên căn cứ Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 hướng dẫn thi hành quy định của Luật hôn nhân và gia đình thì mối quan hệ hôn nhân giữa ông C và bà L không được pháp luật công nhận là vợ chồng.

[3] Về con chung: Bà Nguyễn Thị Trúc Lvà ông Thái Minh C xác định có 03 con chung tên Thái Lan Thư, sinh năm 1991; Thái Nhật H, sinh năm 1993; Thái Công M, sinh năm 2000. Hiện các con đã trưởng thành nên không yêu cầu tòa án giải quyết.

[4] Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Trúc L và ông Thái Minh C xác định tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Trúc Lvà ông Thái Minh C xác định không có nên không xem xét.

[6] Án phí dân sự sơ thẩm hôn nhân gia đình bà Lphải nộp theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, 35, 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 9, 14, 51, 53, 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Trúc L.

- Về hôn nhân: Không công nhận bà Nguyễn Thị Trúc L và ông Thái Minh C là vợ chồng.

- Về con chung: Bà Nguyễn Thị Trúc Lvà ông Thái Minh C có 03 con chung tên Thái Lan Th, sinh năm 1991; Thái Nhật H, sinh năm 1993; Thái Công M, sinh năm 2000. Hiện cả ba người con đã trưởng thành nên không xem xét.

- Về tài sản chung: Không xem xét.

- Về nợ chung: Không xem xét.

2. Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình: Bà Nguyễn Thị Trúc L phải nộp số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 21/6/2022 Bà L đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0001602 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau được chuyển thu.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bà L, ông C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ