vanban.org

Bản án 171/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị L và anh Hoàng Văn Tr.

Về nuôi con chung: Giao cháu Hoàng Phương Ánh, sinh ngày 18-2-2007, cháu Hoàng Phú An, sinh này 01-5-2010, cháu Hoàng Phú Tường, sinh ngày 12-01-2013, cháu Hoàng Khánh Ly, sinh ngày 22-02-2015 cho chị Phạm Thị L tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Tr không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hai bên có mọi quyền và… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị L- Đặng Văn Tr"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị L và anh Hoàng Văn Tr.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HẢI HẬU
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 171/2022/HNGĐ-ST
Ngày 08-9-2022
V/v: Ly hôn, nuôi con khi ly hôn
giữa chị L và anh Tr

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Hòe.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Phượng;

Ông Đỗ Việt Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Thắm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

Ngày 08 tháng 09 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý 149/2022/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 61/2022/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị L, sinh năm 1983. Địa chỉ: Xóm 3, xã HX, huyện HH, tỉnh Nam Định.

- Bị đơn: Anh Hoàng Văn Tr, sinh năm 1981. Địa chỉ: Xóm 3, xã HX, huyện HH, tỉnh Nam Định.

(Chị L vắng mặt có lý do; anh Tr vắng mặt lần hai không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 10-6-2022, bản tự khai ngày 01-8-2022 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phạm Thị L trình bày:

Chị Phạm Thị L và anh Hoàng Văn Tr đăng ký kết hôn ngày 13-9-2002 tại Uỷ ban nhân dân xã HX, huyện HH, tỉnh Nam Định trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn. Quá trình chung sống, mặc dù vợ chồng đã có bốn con chung nhưng khoảng từ năm 2020, anh Tr ham chơi, làm ảnh hưởng cả đến kinh tế gia đình nên vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn. Do các con còn nhỏ nên chị L vẫn chấp nhận chung sống, hy vọng anh Tr sẽ thay đổi. Tuy nhiên, thời gian gần đây, xuất hiện nhiều người lạ mặt đến gây rối, đe dọa anh Tr, ảnh ưởng đến cuộc sống của chị L và các con chung. Vì vậy, vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, chị L, anh Tr ly thân, chấm dứt quan hệ tình cảm, trách nhiệm từ đầu năm 2022 đến nay. Trong thời gian ly thân, anh Tr cũng không có thái độ tích cực để cải thiện tình trạng mâu thuẫn. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị L đề nghị Tòa án giải quyết cho chị L được ly hôn với anh Tr.

Về con chung: Vợ chồng có bốn con chung là cháu Hoàng Phương Ánh, sinh ngày 18-2-2007, cháu Hoàng Phú An, sinh này 01-5-2010, cháu Hoàng Phú Tường, sinh ngày 12-01-2013, cháu Hoàng Khánh Ly, sinh ngày 22-02-2015. Hiện nay, các con chung đang do chị L nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị L có nguyện vọng nuôi dưỡng cả bốn con chung, không yêu cầu anh Tr cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Chị L và anh Tr không có tài sản chung, không có nghĩa vụ chung về tài sản nên chị L không yêu cầu Toà án giải quyết.

Toà án đã tống đạt Thông báo thụ lý; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ hợp lệ cho anh Hoàng Văn Tr nhưng anh Tr không đến Tòa án làm việc, không đưa ra lý do của sự vắng mặt và không gửi các văn bản trình bày ý của mình về yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị L. Đồng thời, Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định cũng tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho anh Tr nhưng đến nay anh Tr vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần 2 không lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn chị Phạm Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Hoàng Văn Tr đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vắng mặt lần hai không lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị L, anh Tr là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân:

Quan hệ vợ chồng giữa chị Phạm Thị L và anh Hoàng Văn Tr là quan hệ hôn nhân hợp pháp vì được xây dựng trên cơ sở tự nguyện và được Uỷ ban nhân dân xã HX, huyện HH, tỉnh Nam Định đăng ký kết hôn ngày 13-9-2002. Xét yêu cầu xin ly hôn của chị L và anh Tr thì thấy: Khoảng từ năm 2020, do anh Tr không lo tu chí làm ăn chăm lo cuộc sống gia đình nên vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng. Thời gian gần đây, nhiều người lạ đến tìm, gây rối, đe dọa anh Tr, ảnh hưởng cuộc sống của cả gia đình nên chị L và anh Tr đã lý thân, chấm dứt quan hệ tình cảm từ đầu năm 2022 đến nay. Sau khi thụ lý đơn yêu cầu của chị L, Tòa án đã tống đạt cho anh Tr các văn bản tố tụng, anh Tr đã biết được việc chị L làm đơn xin ly hôn nhưng anh Tr không có văn bản ghi ý kiến của mình gửi cho Tòa án và cũng không có mặt tại các buổi làm việc của Tòa án đã chứng tỏ anh Tr không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị L. Trên cơ sở xem xét đơn đề nghị của chị L có xác nhận của chính quyền địa phương về tình trạng mâu thuẫn; căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của đương sự đã có đủ cơ sở xác định: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh Tr đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của chị L, cho chị Phạm Thị L ly hôn với anh Hoàng Văn Tr là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị Phạm Thị L và anh Hoàng Văn Tr có bốn con chung là cháu Hoàng Phương Ánh, sinh ngày 18-2-2007; cháu Hoàng Phú An, sinh này 01-5-2010; cháu Hoàng Phú Tường, sinh ngày 12-01-2013; cháu Hoàng Khánh Ly, sinh ngày 22-02-2015. Hiện nay, các con chung đang do chị L nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị L có nguyện vọng nuôi dưỡng cả bốn con chung, không yêu cầu anh Tr cấp dưỡng nuôi con.

Xét yêu cầu của chị L về việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung sau ly hôn thì thấy: Chị L trực tiếp nuôi dưỡng bốn con chung từ khi anh Tr, chị L sống ly thân; bốn con chung đều trên bảy tuổi và có nguyện vọng xin được ở với chị L. Đến nay, anh Tr cũng không có ý kiến gì về việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Vì vậy, cần chấp nhận đề nghị của chị L: Giao bốn con chung cho chị Phạm Thị L tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; anh Tr không phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho chị L là phù hợp với quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản: Quá trình giải quyết vụ án, chị L xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nghĩa vụ chung về tài sản nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Từ khi Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cho đến nay, anh Tr cũng không có ý kiến gì về việc giải quyết tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Thị L nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56 và các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị L và anh Hoàng Văn Tr.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Hoàng Phương Ánh, sinh ngày 18-2-2007, cháu Hoàng Phú An, sinh này 01-5-2010, cháu Hoàng Phú Tường, sinh ngày 12-01-2013, cháu Hoàng Khánh Ly, sinh ngày 22-02-2015 cho chị Phạm Thị L tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Tr không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hai bên có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Hiện cháu Ánh, cháu An, cháu Tường, cháu Ly đang do chị L nuôi dưỡng nên hai bên không phải bàn giao con cho nhau.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Phạm Thị L phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ tại biên lai số 006257 ngày 01-8-2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hải Hậu; chị Phạm Thị L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ