vanban.org

Bản án 171/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Bến Cát, tỉnh Bình Dương Tuyên án 14/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Xuân L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lê Xuân L 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 20 (hai mươi) tháng, tính từ ngày Tòa tuyên án (ngày 14/10/2021). Giao bị cáo Lê Xuân L cho Ủy ban nhân dân phường Tân Định, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Xuân Lâm phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Xuân L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN

ỘNG ÒA

ỘI Ủ NG ĨA VIỆ NAM

B N

Độc lập - ự do - ạnh phúc

ỈN BÌN DƯƠNG Bản án số: 171/2021/HS-ST. Ngày: 14-10-2021

NHÂN DANH

NƯỚ ỘNG ÒA

ỘI Ủ NG ĨA VIỆ NAM

ÒA N N ÂN DÂN

B N

, ỈN BÌN DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huỳnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Trọng Quốc

2. Bà Từ Thị Ngọc Duyên

Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Thủy, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Hương, Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 10 năm 2021; tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 94/2021/TLST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2021/QĐXXST-HS ngày 07/07/2021 đối với bị cáo:

Lê Xuân L, sinh năm 1997; nơi sinh: Thanh Hóa; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn H (nay là khu phố H), xã X (nay là thị trấn L), huyện Thọ X, tỉnh Thanh Hóa; chỗ ở hiện nay: Khu phố 2, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Lê Xuân S, sinh năm 1968 và bà Trịnh Thị M, sinh năm 1973; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo được tại ngoại, có mặt.

Bị hại: Công ty trách nhiệm hữu hạn Công nghiệp H, địa chỉ: Lô D-2B-CN, khu công nghiệp Mỹ Phước 3 thuộc khu phố 3B, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện theo ủy quyền của bị hại: Ông Su Thế Đ, sinh năm 2000, địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai, vắng mặt.

NỘI D NG V N:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Xuân L làm công nhân tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Công nghiệp Hungder, địa chỉ: Lô D-2B-CN, khu công nghiệp Mỹ Phước 3 thuộc khu phố 3B, phường Thới Hòa, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương từ tháng 6/2020. Khoảng 22 giờ ngày 19/10/2020, khi L đang ở phòng trọ của mình tại nhà trọ Nguyễn Văn L thuộc khu phố 2, phường Tân Định, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương thì nhớ lại việc Công ty Hungder có để nhiều cuộn dây đồng trong nhà kho nhưng không đóng cửa sổ nên đến khoảng 23 giờ, L điều khiển xe mô tô hiệu Wave (không rõ biển số) đi đến Công ty H, dựng xe bên ngoài tường rào, lén lút leo tường vào bên trong Công ty, đi đến khu vực nhà kho, leo qua cửa sổ vào bên trong lấy được 04 cuộn dây đồng ghi chữ 2UEW có tổng trọng lượng 60kg đặt lên trên một cái giá đỡ có bánh xe để sẵn ở trong kho. Sau đó, Lâm tìm lấy thêm một cái bao tải, rồi kéo giá đỡ có để 04 cuộn đồng bên trên đi ra phía tường rào; lần lượt ném 04 cuộn dây đồng ra ngoài tường rào, sau đó L leo tường rào ra khỏi Công ty. L lấy bao tải bỏ 04 cuộn đồng vào trong, đặt bao lên baga xe mô tô, rồi điều khiển xe chạy đến một tiệm phế liệu cạnh đường Quốc lộ 13 không rõ địa chỉ. L bán 04 cuộn dây đồng cho tiệm phế liệu được 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng). Tiền có được, L sử dụng tiêu xài cá nhân hết. Sau khi thực hiện hành vi trộm cắp, L vẫn đến Công ty H làm việc bình thường.

Đến ngày 04/11/2020, Công ty H kiểm tra số lượng đồng còn lại trong nhà kho thì phát hiện bị mất 04 cuộn dây đồng. Công ty xem lại hình ảnh camera an ninh nhìn thấy L là người lấy trộm đồng nên trình báo Đồn Công an khu công nghiệp Mỹ Phước. Sau đó, vụ việc được chuyển giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát thụ lý theo thẩm quyền.

Theo Kết luận định giá tài sản số 114 ngày 20/11/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã Bến Cát kết luận: 04 cuộn dây đồng ghi chữ 2UEW có trọng lượng 60kg trị giá 11.110.920 đồng (mười một triệu một trăm mười nghìn chín trăm hai mươi đồng).

Đối với xe mô tô hiệu Wave (không rõ biển số) mà L sử dụng làm phương tiện phạm tội, sau khi thực hiện hành vi phạm tội L đã bán xe cho một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) với giá 2.000.000 đồng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát không thu giữ được.

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 05/11/2020, Lê Xuân L bồi thường cho ông Sú Thế Đức (sinh năm 2000, HKTT: Ấp Tân Bảo, xã Bảo Bình, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai) là người đại diện hợp pháp của công ty trách nhiệm hữu hạn Công nghiệp H số tiền 11.110.000 đồng (mười một triệu một trăm mười nghìn đồng). Ông Đ xin giảm nhẹ hình phạt cho L và không yêu cầu gì khác.

Tại Cáo trạng số 98/CT-VKS ngày 06/06/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát đã quyết định truy tố bị cáo Lê Xuân L về tội: “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát giữ nguyên quan điểm truy tố và đồng thời Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lê Xuân L phạm tội :“Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ Khoản 1 Điều 173; Điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017; đề nghị xử phạt bị cáo Lê Xuân L từ 08 (tám) đến 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 16 (mười sáu) đến 20 (hai mươi) tháng.

Tại phiên toà bị cáo không có ý kiến gì đối với với nội dung bản Cáo trạng của Viện Kiểm sát và c ng không tranh luận gì đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện Kiểm sát.

Trong lời nói sau cùng bị cáo trình bày: Mong hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

N N Đ N ỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1 Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Bến Cát, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

2 Về tình tiết định tội, định khung hình phạt:

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Do không có tiền tiêu xài nên bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản là 04 cuộn dây đồng ghi chữ 2UEW có tổng trọng lượng 60kg trị giá 11.110.920 đồng (mười một triệu một trăm mười nghìn chín trăm hai mươi đồng) của Công ty trách nhiệm hữu hạn Công nghiệp H đem bán lấy tiền tiêu xài, sau đó bị phát hiện.

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại trong quá trình điều tra và các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án.

Hành vi lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu để lén lút chiếm đoạt tài sản có tổng giá trị 11.110.920 đồng của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội:“Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017. Do đó, bản Cáo trạng số 98/CT-VKS ngày 06/6/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát c ng như ý kiến luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

3 Hành vi của bị cáo là nguy hiểm đối với xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vẫn thực hiện, thể hiện bản chất tham lam, liều lĩnh và xem thường pháp luật. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất và mức độ phạm tội để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

4 Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại; bị cáo có ông ngoại là Trịnh Hữu Kiện được tặng huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhì; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017.

[4.3] Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; bị cáo có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt các bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì không ảnh hưởng đến việc đấu tranh phòng, chống tội phạm nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 cho bị cáo được miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện là thỏa đáng.

Xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại là Công ty trách nhiệm hữu hạn Công nghiệp H số tiền 11.110.920 đồng. Công ty không yêu cầu gì khác nên không xem xét phần trách nhiệm bồi thường.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với xe mô tô hiệu Wave (không rõ biển số) mà L sử dụng làm phương tiện phạm tội, sau khi thực hiện hành vi phạm tội Lâm đã bán xe cho một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) với giá 2.000.000 đồng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát không thu giữ được. Do đó, cần buộc bị cáo nộp lại số tiền này để sung công quỹ Nhà nước.

[7] Về chi phí tố tụng: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

Q Y Đ N :

1. Tuyên bố bị cáo Lê Xuân L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

2. Căn cứ Khoản 1 Điều 173; Điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Xử phạt bị cáo Lê Xuân L 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 20 (hai mươi) tháng, tính từ ngày Tòa tuyên án (ngày 14/10/2021).

Giao bị cáo Lê Xuân L cho Ủy ban nhân dân phường Tân Định, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

3. Về trách nhiệm dân sự: Đã tự thỏa thuận bồi thường xong nên không xem xét.

4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Buộc bị cáo Lê Xuân L phải nộp số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) để sung công quỹ Nhà nước.

5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Lê Xuân L phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật./. Nơi nhận:

M. ỘI ĐỒNG É Ử SƠ ẨM

- TAND tỉnh Bình Dương;

ẨM P N – Ủ OẠ P IÊN OÀ

- VKSND tỉnh Bình Dương;

- PV27, Công an tỉnh Bình Dương;

- Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;

- VKSND thị xã Bến Cát;

(đã ký)

- Công an thị xã Bến Cát;

- Ủy ban nhân dân phường Tân Định, tx. Bến Cát

Nguyễn Văn uỳnh

- Chi cục THADS thị xã Bến Cát;

- Người tham gia tố tụng;

- Lưu: HS, VT. ác hội thẩm nhân dân

hẩm phán – hủ tọa phiên tòa

Nguyễn Văn uỳnh

Cỡ chữ