vanban.org

Bản án 171/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Q. Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 07/06/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Tuyết Nhung (Nguyễn Hồng

Xác định toàn bộ căn nhà đất tại địa chỉ số 289, Ấp Chiến Lược, khu phố 2, Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Tuyết Nhung (Nguyễn Hồng
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH TÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 171/2021/DS-ST
Ngày: 07/6/2021
V/v: “tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Việt Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Kim Liên;

2. Bà Lê Thị Tố Nữ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Cương là Thư ký Tòa án nhân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 504/2020/TLST-DS ngày 19 tháng 11 năm 2020 về việc “tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2021/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 4 năm 2021, quyết định hoãn phiên tòa số 59/2021/QĐST-DS ngày 10 tháng 5 năm 2021, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn T;

Địa chỉ: số 266-268 đường N, Phường X, Quận Y, Thành phố H.

Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D, chức vụ: Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Trường T, sinh năm 1994 (có đơn xin vắng mặt).

Bị đơn: Ông Nguyễn Minh V, sinh năm 1973 (vắng mặt);

Địa chỉ: số 1233 Quốc lộ Z, khu phố K, phường A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện ủy quyền của nguyên đơn ông T trình bày:

Ngày 16/12/2010, ông Nguyễn Minh V và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn T ký kết Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, bảng Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông V, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng chung là 12.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân.

Sau khi được cấp thẻ, ông V đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 22.855.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt đến nay ông V đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền là 32.795.500 đồng (thứ tự thanh toán căn cứ Điều 20 của Bảng Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Sau đó thì ông V ngưng thanh toán, Ngân hàng có nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông V vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Do ông V vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ngày 01/02/2016 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bảng Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).

Tính đến ngày 07/6/2021, ông Nguyễn Minh V còn nợ tổng cộng là 6.413.610 đồng (nợ gốc là 2.041.394 đồng và lãi quá hạn là 4.372.216 đồng). Do ông V vi phạm nghĩa vụ thanh toán, Ngân hàng có nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ; do đó Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn T yêu cầu ông Nguyễn Minh V phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền (gồm cả gốc và lãi) tính đến ngày 07/6/2021 là 6.413.610 đồng (sáu triệu bốn trăm mười ba nghìn sáu trăm mười đồng) ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra, ông Nguyễn Minh V còn phải trả số tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc thực nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn T theo mức lãi suất nợ quá hạn theo hợp đồng tín dụng đã ký kể từ ngày 08/6/2021 cho đến khi trả hết nợ.

* Bị đơn là ông Nguyễn Minh V: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến Tòa án, vắng mặt không rõ lý do và không có văn bản ghi nhận ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn gửi cho Tòa án.

* Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu và xin được vắng mặt. Bị đơn ông Nguyễn Minh V vẫn vắng mặt không có lý do.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Tân phát biểu ý kiến và kết luận: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Toà án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về thẩm quyền, thủ tục. Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện đầy đủ và đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71, 234 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72, 234 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Do ông V đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên căn cứ vào bảng điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, Ngân hàng yêu cầu ông V thanh toán số dư nợ còn thiếu là phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức Tín dụng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và công bố các yêu cầu và tài liệu, chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Nguyên đơn có đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn; bị đơn có nơi cư trú cuối cùng tại quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, nên căn cứ Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng thì ông Nguyễn Minh V cung cấp địa chỉ tại số 1233 Quốc lộ Z, khu phố K, phường A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, theo kết quả xác minh của Công an nhân dân phường A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh thì “Đương sự Nguyễn Minh V sinh năm 1973 không có đăng ký HKTT, không đăng ký tạm trú, không thực tế cư trú tại địa chỉ số 1233 Quốc lộ Z, khu phố K, phường A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh”. Do đó, căn cứ vào khoản 3 Điều 40 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định: Bị đơn không còn cư trú tại địa chỉ ghi trong Hợp đồng nhưng không thông báo nơi cư trú mới cho người khởi kiện xem như bị đơn cố tình giấu địa chỉ. Căn cứ những quy định trên, Hội đồng xét xử xác định địa chỉ bị đơn tại số số 1233 Quốc lộ Z, khu phố K, phường A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh để Tòa án tống đạt, niêm yết văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, căn cứ theo khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đại diện nguyên đơn là phù hợp. Bị đơn ông Nguyễn Minh V đã được Toà án tống đạt hợp lệ, nhưng vẫn không có mặt để tham dự phiên toà; do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm là có căn cứ, đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung vụ án:

Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của đương sự thì hai bên có ký kết hợp đồng thẻ tín dụng (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, bảng Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là hợp đồng). Việc ký kết hợp đồng này có nội dung, hình thức phù hợp đúng với quy định, lãi suất thỏa thuận giữa hai bên theo hợp đồng là hoàn toàn tự nguyện phù hợp pháp luật;

Xét thấy, ông Nguyễn Minh V còn nợ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn T theo thẻ tín dụng qua các lần giao dịch, lãi, phí phát sinh sau khi thanh toán từ ngày 15/01/2011 đến 07/6/2021, ông V còn nợ là 6.413.610 đồng (nợ gốc là 2.041.394 đồng và lãi quá hạn là 4.372.216 đồng). Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Nguyễn Minh V trả hết số nợ vốn và lãi tổng cộng theo hợp đồng của thẻ tín dụng trên là 6.413.610 đồng (sáu triệu bốn trăm mười ba nghìn sáu trăm mười đồng) cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn T ngay khi án có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra, ông V có trách nhiệm tiếp tục trả lãi phát sinh theo thỏa thuận đã ký kết với Ngân hàng.

Bị đơn ông Nguyễn Minh V mặc dù đã được Tòa án triệu tập cũng như tống đạt hợp lệ, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có bất cứ ý kiến gì phản đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, do đó ông V đã từ bỏ quyền phản đối của mình theo khoản 2 Điều 91 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận theo yêu cầu của nguyên đơn, việc đề nghị này của đại diện Viện kiểm sát là đúng với quy định của pháp luật, nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về án phí:

- Ông Nguyễn Minh V chịu án phí theo quy định của pháp luật. Cụ thể như sau: 6.413.610 đồng (sáu triệu bốn trăm mười ba nghìn sáu trăm mười đồng) x 5% = 320.681 đồng (ba trăm hai mươi nghìn sáu trăm tám mươi mốt đồng).

- Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn T số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí mà Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn T đã nộp theo biên lai thu số 062481 ngày 18/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 91, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 147 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ vào khoản 3 Điều 40 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức Tín dụng;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn T đối với ông Nguyễn Minh V.

Buộc ông Nguyễn Minh V có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn T tổng số tiền vốn và lãi theo hợp đồng của thẻ tín dụng là 6.413.610 đồng (sáu triệu bốn trăm mười ba nghìn sáu trăm mười đồng). Trong đó, tiền nợ gốc là 2.041.394 đồng (hai triệu không trăm bốn mươi mốt nghìn ba trăm chín mươi bốn đồng) và tiền nợ lãi là 4.372.216 đồng (bốn triệu ba trăm bảy mươi hai nghìn hai trăm mười sáu đồng).

Ông Nguyễn Minh V còn phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn T tiền lãi phát sinh từ ngày 08/6/2021 trên dư nợ gốc theo mức lãi suất nợ quá hạn thỏa thuận trong giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng đã ký, bảng Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn T cho đến khi ông V thanh toán hết nợ.

2. Về án phí:

- Ông Nguyễn Minh V chịu án phí theo quy định của pháp luật. Cụ thể như sau: 6.413.610 đồng (sáu triệu bốn trăm mười ba nghìn sáu trăm mười đồng) x 5% = 320.681 đồng (ba trăm hai mươi nghìn sáu trăm tám mươi mốt đồng).

- Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn T số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí mà Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn T đã nộp theo biên lai thu số 062481 ngày 18/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án, để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quyết định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ