vanban.org

Bản án 171/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 29/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội : “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Văn H 15(mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày10/02/2020. Về phần dân sự: Công nhận phần dân sự giữa bị cáo và bị hại đã giải quyết xong. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội : “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THANH HÓA
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 171/2020/HS-ST
Ngày: 29/6/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA - THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Hào

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Trọng Quân

2. Ông Nguyễn Duy Tuyên

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Ninh Thị Tám

- Kiểm sát viên

Ngày 29/6/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 168/2020/TLST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 183/2020/XXST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2020, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H - Sinh năm 1986 tại Thanh Hóa; Nơi đăng ký NKTT và chỗ ở: Lô C, MB , phố X, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: LĐTD; trình độ văn hóa: không; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn C và bà: Nguyễn Thị H; vợ: chưa; tiền án: Ngày 31/5/2018, bị TAND thành phố Thanh Hóa xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng về tội “trộm cắp tài sản” (chấp hành xong phần dân sự ngày 14/8/2018); tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ ngày 10/02/2020 đến ngày 16/02/2020 chuyển tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Công ty Đ.

Trú tại: Số BL, phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện theo ủy quyền: Ông La Thế T - Giám đốc XNQL - XL Điện thuộc Công ty Đ(vắng).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền mua ma túy sử dụng, khoảng 19 giờ ngày 09/02/2020, Nguyễn Văn H dùng chiếc xuồng của bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1961 ở Lô C21, MB 1784, phố X, phường Đ, thành phố T nói đi đánh cá trên sông mã. Khi đi Hoạt mang theo túi xách bên trong có 01 kìm cộng lực, 01 mỏ lét, 01 kìm cắt, 01 tua vít, 01 dao cắt, 01 thanh sắt chữ T và 01 đèn pin, mục đích để đi trộm cắp tài sản lấy tiền mua ma túy sử dụng. H điều khiển xuồng đi từ cầu Vạn Hà xuôi dòng trên sông Mã, đến khoảng 01 giờ sáng ngày 10/02/2020 thấy nhà dân xung quanh khu vực chân cầu bên phía bắc cầu L, xã L tắt điện, H điều khiển xuồng cập bờ rồi đi lại chân cầu thấy cửa hầm kỹ thuật không khóa, H leo theo cầu thang sắt ở trụ cầu lên hầm kỹ thuật đi vào bên trong lòng cầu kỹ thuật để thám thính. Thấy không có người trong coi, H quay lại thuyền lấy túi xách đựng dụng cụ đi lại leo theo cầu thang sắt đi vào bên trong lòng cầu lại nơi lắp đặt hệ thống điều khiển điện chiếu sáng dùng kìm cộng lực cắt 03 đoạn dây cáp điện loại Cu/XLPE/DSTA/PVC 4x25 mm tổng chiều dài là 56,53m, sau đó H kéo ra hầm kỹ thuật để bỏ xuống đất thì bị tổ công tác Công an thành phố Thanh Hóa phát hiện và bắt quả tang cùng với tang vật.

Theo báo cáo của đại diện hợp pháp của bị hại, do trạm biến áp ở hai đầu cầu Hoàng Long bị sự cố dẫn đến mất điện từ tháng 10/2019, nên tài sản của Công ty bị mất trộm trong khoảng thời gian trên gồm khoảng 100m dây cáp điện Cu/XLPE/DSTA 4x25 mm, giá khoảng 200.000đ/m; 30m dây cáp điện Cu/XLPE/DSTA/PVC 3x25 + 1 x16 mm2 giá khoảng 180.000đ/m; 05 chiếc đồng hồ chiếu sáng trị giá khoảng 1.000.000đ/cái.

Ngày 10/02/2020, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thanh Hóa tiến hành định giá 56,53m cáp điện loại Cu/XLPE/DSTA/PVC 4x25 mm có tổng giá trị là 7.490.225đ.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thanh Hóa đã trả lại số dây điện trên cho bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ tài sản và không yêu cầu gì thêm về phần dân sự.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn H còn khai nhận, khoảng cuối năm 2019 đầu năm 2020, tại địa điểm trên H còn hai lần trộm cắp dây cáp điện, sau đó đem về nhà cắt nhỏ và bán cho một người phụ nữ không biết tên, tuổi địa chỉ thu mua phế liệu trên khu vực Thiệu Hóa được tổng là 13.200.000đ ăn tiêu hết. Ngày 07/02/2020 cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thanh Hóa đã khởi tố vụ án hình sự xảy ra tại cầu Hoàng Long, xã Long Anh, thành phố Thanh Hóa, nhưng do không thu thập được vật chứng, không có nhân chứng, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thanh Hóa đang tiếp tục xác minh làm rõ hành vi này đối với Nguyễn Văn H để xử lý sau.

Đối với chiếc thuyền bằng chất liệu gỗ, xi măng, dài 5m, rộng 1,5m gắn động cơ diezien và thanh sắt màu đen dài khoảng 45 cm là tài sản của bà Nguyên Thị H (mẹ H), khi H mượn bà H không biết H dùng làm phương tiện để phạm tội nên cơ quan điều tra đã trả lại cho bà H.

Tại bản cáo trạng số 163/CT-VKSTPTH ngày 27/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS.

Tại phiên tòa đại diện VKS vẫn giữ nguyên quyết định truy tố; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Về hình phạt VKS đề nghị xử phạt Nguyễn Văn H mức án từ 15 đến 18 tháng tù. Ngoài ra đại diện VKS buộc bị cáo phải chịu án phí HSST và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận gì với đại diện VKS.

Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, tuy tố, xét xử đã được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo, bị hại không có ý kiến khiếu nại gì.

Về hành vi phạm tội:

Khoảng 01 giờ sáng ngày 10/02/2020, tại khu vực hầm cầu phía bắc Sông M, cầu H, xã L, thành phố T Nguyễn Văn H đã dùng kìm cộng lực cắt 03 đoạn dây cáp điện loại Cu/XLPE/DSTA/PVC 4 x 25 mm tổng chiều dài là 56,53m của Công Đ trị giá là 7.490.225đ.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn H có đủ các dấu hiệu cấu thành tội "trộm cắp tài sản". Tội phạm và khung hình phạt được quy đinh tại khoản 1 Điều 173 BLHS như cáo trạng của VKSND thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo là đúng.

Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, vai trò của bị cáo và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Lợi dụng chủ sở hữu sơ hở trong việc quản lý tài sản bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản rồi nhanh chóng tẩu thoát. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân, làm mất trật tự trị an chung, cần phải xử lý nghiêm minh.

Bị cáo có tuổi đời còn trẻ, muốn hưởng thụ nhưng lười lao động, bản thân đã bị xét xử về tội trộm cắp tài sản, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để cải sửa bản thân. Do đó khi xem xét hình phạt cần áp dụng Điều 38 BLHS để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và có tính chất phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại đểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có một tiền án chưa được xóa án tích, nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

Về phần dân sự:

Theo báo cáo của đại diện hợp pháp của bị hại, tài sản bị cáo chiếm đoạt đã nhận lại đầy đủ và không yêu cầu đề nghị gì về phần dân sự, nên công nhận phần dân sự giữa bị cáo và bị hại đã giải quyết xong.

Về xử lý vật chứng:

01 túi xách bằng nhựa cũ, 01 kìm cộng lực cũ gỉ, 01 mỏ lét, 01 kìm cắt cầm tay nhỏ, 01 tuốc nơ vít, 01 con dao cắt nhỏ, 01 đèn pin đội đầu là vật không có giá trị, nên căn cứ vào khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu và tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS năm 2015; khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106; Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội : “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Văn H 15(mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày10/02/2020.

Về phần dân sự: Công nhận phần dân sự giữa bị cáo và bị hại đã giải quyết xong.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy 01 túi xách bằng nhựa cũ, 01 kìm cộng lực cũ gỉ, 01 mỏ lét, 01 kìm cắt cầm tay nhỏ, 01 tuốc nơ vít, 01 con dao cắt nhỏ, 01 đèn pin đội đầu.

Hiện số vật chứng trên đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa, theo biên bản giao nhận vật chứng số 150/THA ngày 28/5/2020 giữa Công an thành phố Thanh Hóa với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa.

Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án./.

Cỡ chữ