vanban.org

Bản án 171/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 29/12/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/. Tuyên bố bị cáo H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo H 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/8/2020. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/. Tuyên bố bị cáo H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
À P Ố Ồ C Í MI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 171/2020/HS-ST
Ngày: 29/12/2020

NHÂN DANH

ƯỚC CỘ G ÒA XÃ ỘI C Ủ G ĨA VIỆ AM

ÒA

, À P Ố Ồ C Í MI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Mỹ H

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thanh Phước

2. Bà Nguyễn Thị Lệ Hoa

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Xuân Trường - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình TH, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình TH, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Tuyết Vân - Kiểm sát viên

Trong ngày 29 tháng 12 năm 2020 tại phòng xử án Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 154/2020/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 214/2020/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:

H; Sinh ngày 26/11/1996 tại Tiền Giang; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 119B/68/50A đường Nguyễn Thị Tần, Phường 2, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Buôn bán xe; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông A (sinh năm: 1969) và bà M (sinh năm: 1971) (bị cao chưa có vợ con và là con một trong gia đình).

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam vào ngày 27/8/2020 (có mặt tại phiên tòa).

+ Bị hại: Chị H.

Địa chỉ thường trú: H, đường Trần Kế Xương, Phường 3, quận Bình TH, Thành phố Hồ Chí Minh;

Địa chỉ cư trú: HH, đường Trần Kế Xương, Phường 3, quận Bình TH, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 29/12/2020).

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/. Chị T.

Địa chỉ: T, Khu phố 3A, phường Đông Hưng Thuận, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt);

2/. Anh Tr.

Địa chỉ thường trú: T, đường Ba Đình, Phường 8, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh;

Địa chỉ cư trú: TT, Ấp 4, xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt);

3/. Chị M.

Địa chỉ: M, đường Nguyễn Thị Tần, Phường 2, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

ỘI

G VỤ :

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 50 phút, ngày 18/8/2020, chị H có đưa điện thoại di động hiệu Oppo Reno 2F cho cháu ngoại là V (nam) (sinh năm 2012) để chơi game và trông coi tiệm tạp hóa tại địa chỉ nhà số 02 đường Trần Kế Xương, Phường 3, quận Bình Thạnh. Trong lúc trẻ V đang chơi game thì H, mặc áo khoác màu xám trùm kín đầu, mặc quần Jean dài màu xanh, dép màu đen, đi xe mô tô biển số 59L2.871.94 đến hỏi mua nước, trẻ V để điện thoại Oppo Reno 2F trên mặt bàn quầy tính tiền và quay lưng đi vào trong lấy bịch đựng nước nên H đã đi đến lấy trộm điện thoại rồi lên xe chạy mất. Chị H đến công an Phường 3, quận Bình thạnh trình báo sự việc.

Ngày 23/8/2020, Tổ tuần tra Đội Cảnh sát hình sự Công an quận Bình thạnh phát hiện H đi trên xe môtô biển số: 59L2.871.94 đến trước số nhà 294 Đường Xô Viết Nghệ Tĩnh, Phường 17, quận Bình Thạnh có biểu hiện nghi vấn nên mời về trụ sở làm việc.

Tại Cơ quan điều tra H khai nhận như sau: Vào khoảng 13 giờ 50 phút ngày 18/8/2020 H điều khiển xe mô tô biển số 59L2.871.94 đi ngang qua tiệm tạp hóa tại số nhà 02 đường Trần Kế Xương, Phường 3, quận Bình Thạnh thì nhìn thấy bé trai tên V đang ngồi trước tiệm tạp hóa và cầm điện thoại chơi game nên H nảy sinh ý định trộm cắp. H điều khiển xe mô tô nêu trên vòng lại đậu trước tiệm tạp hóa rồi hỏi “Bán chai nước sâm”, trẻ V đưa cho H 01 chai và nói 5.000 đồng, H đưa trẻ V 10.000 đồng và nói lấy thêm 01 chai nữa rồi yêu cầu bỏ cả hai chai vào bịch nylon, trẻ V để điện thoại trên mặt bàn quầy tính tiền rồi quay lưng đi lấy bịch. Thấy cháu V quay lưng vào trong nên H đi đến lấy trộm điện thoại rồi đi ra ngoài lên xe mô tô chạy mất, có nghe tiếng trẻ V kêu “ê”.

Sau khi lấy được điện thoại Oppo Reno 2F, H đem đến bán tại Hộ kinh doanh thiết bị Viễn Thông A T, địa chỉ 33 Lô 35 đường Phạm Thế Hiển, Phường 4, Quận 8 (người đại diện theo pháp luật là ông D). Chị T là người thu mua (chị T có chồng là ông D - chủ cửa hàng điện thoại nêu trên) với giá 1.000.000 đồng và đã tiêu xài hết. Sau khi chị T mua lại điện thoại nêu trên từ H và đã bán lại cho khách vãng lai không rõ lai lịch.

Theo Kết luận định giá tài sản số 461 ngày 29/9/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Bình Thạnh kết luận: “01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 2F trị giá 4.000.000 đồng”.

+ Vật chứng của vụ án gồm có:

1/. 01 USB chứa dữ liệu liên quan đến việc trộm cắp tài sản;

2/. 01 áo khoác thun có cổ màu xám hiệu THE FAMI TEE; 01 quần jeans dài màu xanh; 01 nón bảo hiểm màu xám hiệu PIAGGIO, 01 đôi dép màu đen, quay ngang hiệu GUCCI. Đây là bộ quần áo của H mặc khi đi trộm cắp tài sản;

3/. 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 2F không thu hồi được;

4/. 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1280, số IMEI: 355.849.094.382.430 và 01 điện thoại di động Oppo bị hư, bể nát màn hình không xác định được số IMEI tài sản là của H.

5/. 01 xe mô tô Honda Wave A (đen, bạc), biển số: 59L2.871.94. Qua xác minh được biết anh Tr, địa chỉ: 33A đường Ba Đình, Phường 8, Quận 8 đứng tên chủ sở hữu, anh Tr đã bán chiếc xe trên cho chị M (là mẹ ruột của H). Chị M không biết việc H sử dụng xe đi trộm cắp nên Cơ quan Điều Tra đã trả chiếc xe nêu trên cho chị M.

+ Về trách nhiệm dân sự: Chị H đã nhận đủ số tiền bồi thường 7.000.000 đồng từ chị M (là mẹ ruột của H). Chị H không có yêu cầu gì khác về dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho H.

Tại Bản cáo trạng số 150/CT-VKSBth ngày 11/11/2020, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình TH truy tố bị can H tội danh “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nội dung bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, ăn năn hối cãi về hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt khi được nói lời sau cùng.

Tại phiên tòa chị M xác định: Chị M là mẹ ruột của bị cáo, chị M là người đã mua chiếc xe trên của anh Tr, hai bên mua bán thông qua hợp đồng ủy quyền, anhTr đã hoàn tất thủ tục sang tên chủ sở hữu cho chị M. Chị M đưa xe cho bị cáo sử dụng để đi làm và không biết bị cáo sử dụng xe để đi trộm cắp. Chị M đã nhận lại chiếc xe nêu trên và đã thay bị cáo bồi thường thiệt hại 7.000.0000 đồng cho chị H. Chị M xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do phạm tôi lần đầu, ít nghiêm trọng, không có tiền án, tiền sự.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh trình bày lời luận tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù, xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án;

ĐỊ CỦA ÒA :

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Khoảng 13 giờ 50 phút, ngày 18/8/2020 tại tiệm tạp hóa ở số nhà 02 đường Trần Kế Xương, Phường 3, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo đã lén lút trộm cắp điện thoại di động hiệu Oppo Reno 2F trị giá 4.000.000 đồng của chị H.

Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 461/KLĐGTS - TCKH ngày 29/9/2020 nêu trên thì 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 2F trị giá 4.000.000 đồng.

Bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nhằm mục đích bán lấy tiền để sử dụng cá nhân.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Bản thân bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì tư lợi, lười lao động bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để trừng trị và giáo dục bị cáo, đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa chung.

[2] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Xét bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản đối với người dưới 16 tuổi, theo quy định của pháp luật thì hành vi này là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm i Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sư. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, chưa có tiền án, tiền sự, gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm b, i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính nhân đạo của pháp luật nhằm tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về sống có ích cho xã hội và chăm sóc cha mẹ.

[3] Về xử lý vật chứng:

1/. Vật chứng là 01 USB ghi lại hình ảnh bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, Hội đồng xét xử xét thấy Cơ quan điều tra đã xử lý lưu vào hồ sơ vụ án là đúng quy định của pháp luật.

2/. 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 2F, Cơ quan điều tra không thu hồi được nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

3/. 01 áo khoác thun có cổ màu xám hiệu THE FAMI TEE; 01 quần jeans dài màu xanh; 01 nón bảo hiểm màu xám hiệu PIAGGIO, 01 đôi dép màu đen, quay ngang hiệu GUCCI không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy.

4/. 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1280, số IMEI: 355.849.094.382.430 và 01 điện thoại di động Oppo bị hư, bể nát màn hình không xác định được số IMEI là tài sản của bị cáo không liên quan đến vụ án nên Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo.

5/. 01 xe mô tô Honda Wave A (đen, bạc), mang biển kiểm soát số: 59L2-871.94; Số khung: RLHJA3912KY104.489; Số máy: JA39E-0960905. Quá trình điều tra, xác minh làm rõ: Số khung, số máy của xe không thay đổi (BL 26). Xe gắn máy nêu trên của anh Tr (sinh năm: 1985, địa chỉ: 33A đường Ba Đình, Phường 8, Quận 8, TPHCM) đứng tên sở hữu, ngày đăng ký 05/4/2019. Đến ngày 23/9/2020 anhTr có bán xe cho chị M, địa chỉ 119B/68/50A đường Nguyễn Thị Tần, Phường 2, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh bằng hình thức Hợp đồng ủy quyền công chứng số 011.699, quyển số 02.TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng công chứng Dương Mỹ Hằng, Thành phố Hồ Chí Minh. Chị M đã được sang tên chủ sở hữu. Chị M không biết bị cáo sử dụng chiếc xe nêu trên để đi trộm cắp tài sản. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng số 130 ngày 16/10/2020 và trả lai tài sản chị M (bút lục 92, 93) là có cơ sở nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị H đã nhận được số tiền 7.000.000 đồng bồi thường chiếc điện thoại bị mất từ chị M (mẹ ruột bị cáo) vào ngày 27/8/2020 và không có yêu cầu dân sự gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5]. Ở dạng tội phạm này, ngoài hình phạt tù, bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, nhưng xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

[6] Về hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo, Điều tra viên Cơ quan điều tra Công an quận Bình TH, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh được phân công điều tra, kiểm sát giải quyết vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, có cơ sở để xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

YẾ ĐỊ :

- Căn cứ Khoản 1 Điều 173; Điểm b, i, s Khoản 1 Điều 51; Điểm i Khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

1/. Tuyên bố bị cáo H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo H 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/8/2020.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2/. Về xử lý vật chứng:

- Căn cứ Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Căn cứ Điểm c Khoản 2, điểm a Khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.

+ Tịch thu tiêu hủy:

- 01 áo khoác thun có cổ màu xám hiệu THE FAMI TEE;

- 01 quần jeans dài màu xanh;

- 01 nón bảo hiểm màu xám hiệu PIAGGIO;

- 01 đôi dép màu đen, quay ngang hiệu GUCCI.

+ Trả lại cho bị cáo:

-01 điện thoại di động hiệu Nokia 1280, số IMEI: 355.849.094.382.430;

-01 điện thoại di động Oppo bị hư, bể nát màn hình không xác định được số IMEI.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng lúc 09 giờ 00 phút, ngày 29/10/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thạnh).

- Căn cứ Khoản 2 Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Đưa vào hồ sơ vụ án vật chứng là 01 USB có chứa dữ liệu ghi lại hình ảnh bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

3/. Về án phí hình sự:

Căn cứ Điều 135, Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu: 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

4/. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị M có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại chị H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị T, anh Tr vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ