vanban.org

Bản án 171/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội Tuyên án 26/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Mai Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 173; điểm h,s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 56 BLHS 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Xử phạt: Mai Thị T 6 (sáu) tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”. Buộc bị cáo phải chịu tổng hợp hình phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo bản án hình sự sơ thẩm số 234/2019/HS… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mai Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 171/2019/HSST
Ngày 26/11/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CÔNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Vũ Quang Long

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Công Đoàn

2. Ông Trần Văn Tận

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: bà Lê Thị Huyền - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm - thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm- thành phố Hà Nội, tham gia phiên tòa: Bà Vương Thị Thanh Hà - kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 163/2019/HSST ngày 4/11/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 159/QĐXXST-HS, ngày 5/11/2019, đối với bị cáo:

Họ và tên: Mai Thị T sinh năm: 1960. Nơi cư trú: B, xã N, huyện S, Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: Không biết chữ. Bố: Dương Văn L (Đã chết). Mẹ: Mai Thị P (Đã chết). Chồng: Nguyễn Văn H sinh 1958 (Đã chết). Có hai con: Con lớn sinh 1987 và con nhỏ sinh 1998.

Tiền án tiền sự: 01 tiền sự: Ngày 03/4/2018 Công an phường Phúc Đồng, Long Biên, Hà Nội quyết định xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản;

Ngày 16/10/2019, Tòa án nhân dân Quận Bắc Từ Liêm, Thành Phố Hà Nội xử Mai Thị T 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

Bị bắt ngày 01/7/2019, theo bản án hình sự sơ thẩm số 234/2019/HSST, ngày 16/10/2019 của Tòa án quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội. Hiện đang tạm giam tại trại giam số 1- Công an Thành Phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

1. Anh Lê Văn L sinh 1992; HKTT: Quỳnh Y, xã Quỳnh L, Nghệ An. Tạm trú; đường B, tổ dân phố An Đ, thị trấn Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 30 ngày 10/3/2019, tại số nhà 100 đường B An Đ, Thị Trấn Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội anh anh Lê Văn L - Sinh 1992 phát hiện Mai Thị T có hành vi trộm cắp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Philips vỏ màu đen ; 01ví màu đen bên trong có 130.000 đồng. Anh Luận đã trình báo Công an Thị Trấn Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội và đưa T về trụ sở để điều tra làm rõ ( BL 44)

Vật chứng T giữ Mai Thị T: 01 chiếc ví màu đen đựng 130.000 đồng; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Philips vỏ màu đen ( BL 53)

Tại cơ quan điều tra, bị can Mai Thị T khai nhận: Khoảng 10 giờ ngày 10/3/2019, T đi lang thang quanh khu vực Thị Trấn Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội mục đích để xin việc làm. Khi T đi đến số nhà 100 đường B An Đào, Thị Trấn Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội thấy cổng không khóa, tại phòng trọ số 5 trong phòng đang mở cửa bên trong có anh Lê Văn L đang nằm ngủ trên giường bên cạnh đặt một chiếc ví màu đen và 01 điện thoại di động Philip nên T đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản trên lấy tiền tiêu. T đã đi đến cầm một chiếc ví màu đen và 01 điện thoại di động Philip thì bị anh Luận phát hiện tóm lấy tay T, sau đó T đưa về trụ sở Công an để giải quyết. Lời khai nhận tội của bị can T phù hợp với lời của người bị hại và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Kết luận định giá tài sản số 37/KL – HĐĐG ngày 28/3/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Huyện Gia Lâm kết luận tại thời điểm ngày ngày 10/3/2019: 01 chiếc ví giả da màu đen đã qua sử dụng có giá: 120.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Philips, vỏ ngoài màu đen, số Imei1: 861277030013561;Imei 2: 861277030013561, máy đã qua sử dụng có giá 200.000 đồng.( BL 55 – 56).

Ngày 30/3/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Gia Lâm đã trao trả: 01 chiếc ví giả da màu đen đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Philips vỏ ngoài màu đen và số tiền 130.000 đồng cho anh Lê Văn L, anh Luận đã nhận lại tài sản và không có đề nghị về dân sự. (BL 65 và 96 - 97).

Tại bản cáo trạng số 163/CT-VKDGL ngày 31/10/2019 của VKSND huyện Gia Lâm truy tố bị cáo Mai Thị T về tội “ Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 BLHS 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo T thừa nhận: Khoảng 10 giờ ngày 10/3/2019, T đi lang thang quanh khu vực Thị Trấn Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội mục đích để xin việc làm. Khi T đi đến khu nhà trọ đường B An Đ, Thị Trấn Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội thấy cổng không khóa, tại phòng trọ số 5 trong phòng đang mở cửa bên trong có người đang nằm ngủ trên giường bên cạnh đặt một chiếc ví màu đen và 01 điện thoại di động Philip nên T đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản trên lấy tiền tiêu. T đã đi đến cầm một chiếc ví màu đen và 01 điện thoại di động Philip lên thì bị phát hiện và bị bắt giữ, đưa về trụ sở Công an để giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm, luận tội nêu rõ: Hành vi bị cáo Mai Thị T trộm cắp tài sản có giá trị 450.000đồng nhưng do, trước đó bị cáo đã có tiền sự cùng loại về hành vi Trộm cắp tài sản chưa được xóa nên lần phạm tội này tuy giá trị dưới 2.000.000đồng. Do vậy, bị cáo vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “ Trộm cắp tài sản”, theo điểm a khoản 1 Điều 173 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, phạm tội chưa gây thiệt hại. Vì vậy đề nghị: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 173; điểm s,h khoản 1Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 56 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Mai Thị T từ 8 - 10 tháng tù. Buộc bị cáo phải chịu tổng hợp hình phạt 12 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”, theo bản án hình sự sơ thẩm số 234/2019/HSST, ngày 16/10/2019 của Tòa án quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội, có hiệu lực pháp luật. Tổng hợp bản án buộc Mai Thị T phải chấp hành hình phạt chung từ 18 -20 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 01/07/2019 (ngày bắt theo bản án hình sự sơ thẩm số 234/2019/HSST, ngày 16/10/2019).

Dân sự: Không. Vật chứng: Không.

Lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Vì mục đích tư lợi cá nhân, ngày 10/3/2019, Mai Thị T đã lén lút lợi dụng anh Lê Văn L đang ngủ trưa, tài sản để không ai trông coi, T đã có hành vi trộm cắp tài sản của anh Luận gồm: 01 chiếc ví giả da màu đen đã qua sử dụng;01 điện thoại di động nhãn hiệu Philips, vỏ ngoài màu đen, máy đã qua sử dụng và 130.000đồng trong ví. Tổng giá trị 450.000đồng.

. Nhưng do trước đó ngày 03/04/2018, bị cáo đã bị Công an phường Phúc Đồng, quận Long Biên, Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, tiền sự này chưa được xóa nên lần phạm tội này tuy giá trị dưới 2.000.000 đồng, bị cáo vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “ Trộm cắp tài sản”, theo điểm a khoản 1 Điều 173 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát truy tố bị cáo Mai Thị T về tội “ Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 BLHS 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, là có căn cứ.

Qúa trình tiến hành tố tụng các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi tiến hành tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Thư ký tòa án nên Hội đồng xét xử không phải xem xét.

. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được luật hình sự bảo vệ. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; Nhân thân của bị cáo đáng ra chỉ cần xử phạt bị cáo mức án tù cho cải tạo ngoài xã hội cũng thỏa đáng nhưng do trong khi chờ xử lý thì ngày 01/7/2019, bị cáo lại có hành vi phạm tội trộm cắp tài sản và bị Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm xử phạt 12 tháng tù theo bản án hình sự sơ thẩm số 234/2019/HSST, ngày 16/10/2019 của Tòa án quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội, có hiệu lực pháp luật. Vì vậy Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo mức án tù trong khung hình phạt cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cần phải tổng hợp hình phạt của bản án hình sự sơ thẩm theo khoản 1 Điều 56 của BLHS 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Ngoài ra khi lượng hình cũng xem xét cho bị cáo đã có thái độ khai báo thành khẩn tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, để giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo là phù hợp pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Không.

. Về dân sự: Không.

. Vật chứng: Không.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo luật.

Căn cứ các nhận định trên!

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Mai Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 173; điểm h,s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 56 BLHS 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Các Điều 106; Điều 331; Điều 333; Điều 336 BLTTHS 2015.

Xử phạt: Mai Thị T 6 (sáu) tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”. Buộc bị cáo phải chịu tổng hợp hình phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo bản án hình sự sơ thẩm số 234/2019/HSST, ngày 16/10/2019 của Tòa án quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội, có hiệu lực pháp luật. Tổng hợp bản án buộc Mai Thị T phải chấp hành 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 01/07/2019 (ngày bắt theo bản án hình sự sơ thẩm số 234/2019/HSST, ngày 16/10/2019).

Không phạt bổ sung đối với bị cáo.

Dân sự: Không.

Vật chứng: Không.

2- Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa Tận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm.

Báo cho bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ