- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Văn T - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích” .
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số:171/2019/HS-ST Ngày 15 tháng 10 năm 2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Châu Ngọc Hà.
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Huy Giáp
Ông Vũ Xuân Tuất.
- Thƣ ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy Kiều.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Lương- Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:133/2019/HSST ngày 30 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 142/2019/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:
Đỗ Văn T, sinh ngày 02/10/ 1983, tại Bắc Giang. HKTT: xóm V S, xã Đ S, huyện Y T, tỉnh B G ; Nơi cư trú : ấp T Pt, xã Đ, huyện T B, tỉnh Đ N; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Văn S, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1956; có vợ tên Dương Thị Huyền T, sinh năm 1986 (đã ly hôn) và có 01 người con sinh năm 2010.
Tiền án; Tiền sự: Không;
Bị bắt quả tang ngày 20/3/2019, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Trảng Bom. (Có mặt)
Ngƣời tham gia tố tụng khác:
- Bị hại:
1. Chị Hoàng Thị H, sinh năm 1979. Tạm trú: Kp 5, thị trấn T B, huyện T B, tỉnh Đ N. (Có mặt)
2. Chị Hoàng Thị H, sinh năm 1977. Tạm trú: Tổ 3B, k p 4, thị trấn T B, huyện T B, tỉnh Đ N. ( Vắng mặt)
3. Hoàng Thị H, sinh năm 1987. Tạm trú: k p 4, thị trấn T B, huyện T B, tỉnh Đ N. (Có mặt)
- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Văn V, sinh năm 1971. Tạm trú: k p 5, thị trấn T B, huyện T B, tỉnh Đ N. (Có mặt)
Ngƣời làm chứng:
- Bà Lê Thị L, sinh năm 1961. Địa chỉ: k p 4, thị trấn T B, huyện T B, tỉnh Đ N. (Có mặt)
- Bà Phạm Thị Mộng H, sinh năm 1965. Địa chỉ: k p 4, thị trấn T B, huyện T B, tỉnh Đ N. ( Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Vào khoảng 6 giờ 15 phút ngày 20/3/2019 tại chợ tự phát khu vực bờ hồ thuộc k p 4, thị trấn T B, huyện T B, tỉnh Đ N, Đỗ Văn T và chị Hoàng Thị H đều là người cùng thuê mặt bằng của nhà bà Lê Thị L để buôn bán gà, trong lúc bán hàng T để sọt nhựa và thùng xốp ở gần chỗ chị H bán hàng, vì vậy T và chị H đã xảy ra mâu thuẫn cãi nhau, hai người giằng co nhau cái sọt nhựa, trong lúc giằng co thì sọt nhựa va vào mặt của T nên T tức giận dùng tay đấm vào mặt chị H rồi bỏ đi vào trong nhà bà Lương ở gần đó. Do bị đánh nên chị H đã gọi điện thoại cho chị ruột là Hoàng Thị H và em ruột là Hoàng Thị H đến để đánh T. Một lúc sau chị H và chị H đến đã cùng với chị H dùng tay đánh vào người T. Do tức giận nên T đã lấy 01 cây tuýp sắt dài khoảng 50cm, đường kính khoảng 02cm đánh chị H, chị H và chị H làm chị H bị gãy tay trái, chị H bị thương tích ở đầu và khuỷu tay trái, chị Hbị gãy răng. Lúc này có anh Trần Văn Việt là chồng của chị H chạy đến dùng tay đấm vào đầu T thì được mọi người can ngăn, tước lấy tuýt sắt T đang cầm vứt đi, trong lúc can ngăn T bị thương ở chân phải gây chảy máu. Nhận được tin báo, Công an thị trấn huyện Trảng Bom đến bắt giữ T và lập biên bản, thu giữ 01 tuýt sắt bằng kim loại, màu trắng, hình trụ có đường kính 03cm, dài 01 mét là công cụ làm cho T bị thương (không rõ của ai) bỏ lại tại hiện trường, còn 01 cây tuýp sắt T sử dụng để đánh chị H, chị H và chị H bị thất lạc truy tìm không thấy.
Hậu quả: chị H, chị H và chị H được mọi người đưa đi cấp cứu tại Trung Tâm y tế huyện Trảng Bom tại thị trấn Trảng Bom, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. Đến ngày 31/3/2019 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã ra quyết định trưng cầu giám định số 167/QĐ, 168/QĐ và 169/QĐ đối với thương tích của chị Hoàng Thị H, chị Hoàng Thị H và chị Hoàng Thị H .
Tại bản kết luận giám định pháp y số 0258/TgT/2019 ngày 25/3/2019 của Trung tâm pháp y - Sở Y Tế Đồng Nai xác định thương tích của chị Hoàng Thị H như sau:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Tổn thương gãy 1/3 giữa xương trụ trái, ổ gãy di lệch nhiều (Áp dụng Chương 8, điều II, mục 10.2). Tỷ lệ: 21%
2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 21% (Hai mươi mốt phần trăm).
3. Kết luận khác: Vật gây thương tích: vật tày.
Tại bản kết luận giám định pháp y số 0262/TgT/2019 ngày 27/3/2019 của Trung tâm pháp y - Sở Y Tế Đồng Nai xác định thương tích của chị Hoàng Thị H như sau:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Sẹo môi trên bên trái kích thước 02x0,2cm, sẹo xơ dính, xấu về thẩm mỹ (Áp dụng Chương 9, điều IV, mục 1). Tỷ lệ: 11%.
- Sẹo niêm mạc môi trên bên trái kích thước 01x0,2cm (Áp dụng Chương 9, điều I, mục 1). Tỷ lệ: 01%.
- Gãy ngang thân răng 2.4 (Áp dụng Chương 12, điều II, mục 1). Tỷ lệ: 0,625%.
2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể (Áp dụng theo phương pháp cộng lùi) do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 12% (mười hai phần trăm).
3. Kết luận khác: Vật gây thương tích: vật tày.
Tại bản kết luận giám định pháp y số 0257/TgT/2019 ngày 27/3/2019 của Trung tâm pháp y - Sở Y Tế Đồng Nai xác định thương tích của chị Hoàng Thị H như sau:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Vết thương đỉnh trán giữa (nằm trong chân tóc) kích thước 07x0,2cm (Áp dụng Chương 9, điều I, mục 1). Tỷ lệ: 03%.
2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 03% (ba phần trăm).
3. Kết luận khác: Vật gây thương tích: Thương tích đầu do vật sắc, chấn thương khuỷu tay trái do vật tày .
Ngày 29/3/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Đỗ Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” để điều tra. Quá trình điều tra Đỗ Văn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Vật chứng thu giữ:
01 tuýp sắt hình trụ tròn đường kính 03cm, dài 01 mét đã thu giữ tại hiện trường là công cụ làm cho T bị thương .
Tại bản cáo trạng số: 151/CT/VKS - HS ngày 30 tháng 7 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom truy tố Đỗ Văn T về tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị xử phạt các bị cáo :
Đỗ Văn T từ 03 ( ba ) năm đến 04 (bốn) năm tù.
Các biện pháp tƣ pháp:
- Xử lý vật chứng: Đề nghị Tòa tuyên tịch thu tiêu hủy 01 tuýp sắt hình trụ tròn đường kính 03cm, dài 01 mét đã thu giữ tại hiện trường là công cụ làm cho T bị thương, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã xác minh nhưng không làm rõ được cây tuýp sắt hình trụ của ai.
- Phần dân sự: Chị Hoàng Thị H yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 4.500.000đồng, chị Hoàng Thị H yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 4.000.000đồng, chị Hoàng Thị H yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 3.141.000 đồng.
Đối với thương tích của bị cáo T, T không yêu cầu giám định và trong quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom không chứng minh được người nào gây ra cho bị cáo T nên không có căn cứ để xử lý.
Buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với nhau, với lời khai của bị hại, người làm chứng và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 6 giờ 15 phút ngày 20/3/2019 tại chợ tự phát khu vực bờ hồ thuộc k p 4, thị trấn T B, huyện T B, tỉnh Đ N, Đỗ Văn T có hành vi dùng 01 cây tuýt sắt dài khoảng 50cm, đường kính khoảng 02cm đánh chị Hoàng Thị H bị thương với tỷ lệ thương tật là 21%, đánh chị Hoàng Thị H bị thương với tỷ lệ thương tật là 12% và chị Hoàng Thị H bị thương với tỷ lệ thương tật là 03%.
Hội đồng xét xử dựa trên hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo do đó, có đủ căn cứ kết luận vi phạm nêu trên của bị cáo Đỗ Văn T về tội: “Cố ý gây thương tích”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Hành vi phạm tội của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội. Vì nó xâm phạm trực tiếp tới sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ nên cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, sống tuân thủ pháp luật, đồng thời còn nhằm răn đe và phòng ngừa chung.
. Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Xét bị cáo là người có nhân thân tốt, vì chưa có tiền án, tiền sự; Tại phiên tòa và trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường khắc phục hậu quả đúng với yêu cầu dân sự của người bị hại là chị Hoàng Thị H số tiền 4.500.000 đồng, chị Hoàng Thị H số tiền 4.000.000 đồng, chị Hoàng Thị H số tiền 3.141.000 đồng. Ngoài ra bị hại cũng có phần lỗi là đánh và chửi bị cáo trước. Bản thân bị cáo tàn tật hỏng một mắt, hiện nay cha mẹ bị cáo già yếu bệnh tật, bị cáo là lao động chính trong gia đình. Gia đình bị cáo có giấy xác nhận hộ nghèo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt được quy định tại điểm b, s khoản 1khoản 2 Điều 51-Bộ luật hình sự 2015; do đó Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp thể hiện sự nhân đạo của pháp luật, không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng không làm ảnh hưởng đến việc đấu tranh phòng chống tội phạm tại địa phương nên quyết định áp dụng hình phạt là tù có điều kiện, tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo dưới sự giám sát giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú là đủ. Do đó có đủ điều kiện xét cho bị cáo được hưởng chế độ án treo; nên cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp.
. Xét đề nghị nêu trên của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom thì thấy phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
Về biện pháp tư pháp:
Về vật chứng vụ án: Đối với 01 cây tuýp sắt dài khoảng 50cm, đường kính khoảng 02cm mà Đỗ Văn T sử dụng để đánh chị H, chị Hvà chị H đã bị thất lạc, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã tiến hành truy tìm nhưng không thấy nên không thu hồi được . Do đó hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với 01 tuýp sắt hình trụ tròn đường kính 03cm, dài 01 mét đã thu giữ tại hiện trường là công cụ làm cho T bị thương, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã xác minh nhưng không làm rõ được cây tuýp sắt hình trụ của ai. Cần tịch thu tiêu hủy.
Về dân sự ; gia đình bị cáo đã bồi thường cho người bị hại là chị Hoàng Thị H số tiền 4.500.000 đồng, chị Hoàng Thị H số tiền 4.000.000 đồng, chị Hoàng Thị H số tiền 3.141.000 đồng. Bị hại cũng không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với thương tích của Đỗ Văn T, T không yêu cầu giám định và trong quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom không chứng minh được người nào gây ra cho bị cáo T nên không có căn cứ để xử lý. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
. Xét tính hợp pháp của các quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì thấy đúng quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm d khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65- Bộ Luật hình sự năm 2015;
1) Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích” .
- Xử phạt bị cáo Đỗ Văn T 03 ( ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo T về cho Ủy ban nhân dân xã Đồi 61, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Đỗ Văn T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
2) Về vật chứng: Căn cứ Điều 46 Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
Tịch thu tiêu hủy 01 tuýp sắt hình trụ tròn đường kính 03cm, dài 01 mét (theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 30/7/2019 của cơ quan Thi hành án huyện Trảng Bom).
3) Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4) Bị cáo; Bị hại có mặt chị H; chị Hoan; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh V có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại chị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; -VKSND huyện Trảng Bom; - VKSND tỉnh Đồng Nai ; - Chi cục THADS huyện Trảng Bom; - TAND tỉnh Đồng Nai; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa Lê Châu Ngọc Hà |