- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Minh Q - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Minh Q và Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện B; giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ th m số 36/2019/HS-ST ngày 13/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Dương quyết định:
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố t ng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 171/2019/HS-PT Ngày: 01-11-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Đặng Văn Chum;
- Các Thẩm phán:
Ông Lê Quân Vương;
Ông Trần Văn Luông.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Minh Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 31 tháng 10 năm 2019 và 01 tháng 11 năm 2019, tại tr s Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương m phiên toà t phúc th m công khai v án hình sự phúc th m th lý số 176/2019/TLPT-HS ngày 19/9/2019. Do có kháng cáo của bị cáo Lê Minh Q và kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân huyện B đối với Bản án hình sự sơ th m số 36/2019/HS-ST ngày 13/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Dương.
- Bị cáo có kháng cáo:
Lê Minh Q, sinh năm 1972 tại tỉnh K; hộ kh u thư ng trú: T dân phố P, phư ng C, thành phố C, tỉnh K; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Minh T (đã chết) và bà Nguyễn Thị E; có vợ tên Nguyễn Thị G, sinh năm 1972; có 04 ngư i con, lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 2002; nhân thân:
- Ngày 17/02/1993, bị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh K phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân” và 06 tháng tù về tội “ Tiêu th tài sản do ngư i khác phạm tội mà có”. T ng hợp hình phạt cả hai tội bị cáo phải chấp hành 12 tháng tù theo Bản án số 02/HSST.
- Ngày 27/9/1996, bị Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh V phạt 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân” theo Bản án số 27/HSST.
- Ngày 23/12/1998, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đ phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân” theo Bản án số 295/HSPT.
- Tiền sự: Không; tiền án: Bị cáo có 03 tiền án:
- Ngày 14/9/2001, bị Tòa án nhân dân tỉnh P phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 91/HSPT.
- Ngày 23/9/2006, bị Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh P phạt 28 tháng tù về tội “Tàng trữ trái ph p chất ma túy” theo Bản án số 28/2006/HSST.
- Ngày 10/9/2009, bị Tòa án nhân dân tỉnh P phạt 08 năm tù về tội “Tàng trữ trái ph p chất ma túy” và 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. T ng hợp hình phạt bị cáo phải chấp hành 11 năm tù theo Bản án số 97/2009/HSPT. Bị cáo chấp hành ong hình phạt tù ngày 12/02/2018. Bị bắt, tạm giữ từ ngày 04/4/2019 đến nay, có mặt.
Trong v án còn có 02 bị hại và 01 ngư i có quyền lợi, nghĩa v liên quan do không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 gi 00 phút, ngày 04/4/2019 bị cáo Lê Minh Q thuê e ôm từ Thành phố H về thành phố Đ, tỉnh P tìm tài sản để trộm cắp. Bị cáo nh ngư i lái e ôm (không rõ nhân thân, lai lịch) mua một cây đoản để phá khóa e trị giá 800.000 đồng. Sau đó ngư i lái e ôm ch bị cáo đi về thành phố Đ, tỉnh P. Khi đi ngang qua khu vực chợ T thuộc huyện B, tỉnh Bình Dương thấy nhiều e máy dựng trước chợ, bị cáo trả tiền e rồi đi vào khu vực đang dựng nhiều e máy tại chợ. Thấy e mô tô biển số 61N1-041.13 không có ngư i trông coi, bị cáo đi lại tiếp cận e mô tô trên dùng đoản đưa vào khóa, bẻ khóa e. Sau đó, bị cáo ngồi lên e n máy, điều khiển e chạy theo hướng huyện G về thành phố Đ, tỉnh P. Khi đến khu vực thành phố Đ bị cáo điều khiển e vào nhà của bà Hoàng Thị L thì bị lực lượng Công an huyện B phối hợp cùng Công an thành phố Đ bắt giữ bị cáo cùng tang vật.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 Giấy chứng nhận đăng ký e mô tô số 003530 cấp ngày 01/12/2016 mang tên Phan Ngọc Đ; 01 e mô tô hiệu Honda Future, màu đỏ, biển số 61N1-041.13; 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng, có ốp lưng màu vàng, số IMEI 354446061217979 và số tiền 4.370.000 đồng.
Tại Bản kết luận định giá số 50 ngày 11/4/2019 của Hội đồng định giá tài sản huyện B ác định e mô tô hiệu Honda Future, màu đỏ ghi, biển số 61N1-041.13 trị giá 24.500.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ th m số 36/2019/HS-ST ngày 13 tháng 8 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
Áp d ng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lê Minh Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
X phạt bị cáo Lê Minh Q 05 (năm) năm tù.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ th m còn tuyên về lý vật chứng, về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 21/8/2019, bị cáo kháng cáo in giảm nhẹ hình phạt để có điều kiện lo cho mẹ già và có cơ hội tự s a chữa sai lầm (đơn kháng cáo trong th i hạn luật định).
Ngày 27/8/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện B kháng nghị một phần Bản án hình sự sơ th m số 36/2019/HS-ST ngày 13/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện B đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương t phúc th m theo hướng giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết v án: Về th i hạn kháng cáo của bị cáo Lê Minh Q và Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bình Dương là đúng theo th i hạn luật định nên Tòa án nhân dân dân tỉnh Bình Dương đưa v án ra em t theo thủ t c phúc th m là đúng th m quyền và quy định của pháp luật. Về nội dung, nhận thấy bị cáo có nhân thân ấu (tại các bản án năm 1993, 1996, 1998, 2001 về tội trộm cắp tài nhưng không ác định giá trị tài sản nên theo hướng có lợi cho bị cáo là bị cáo được đương nhiên óa án tích); bị cáo có 02 tiền án nhưng chưa được óa án tích nay lại tiếp t c phạm tội với lỗi cố ý, trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt trong lần phạm tội lần này là 24.500.000 đồng. Vì vậy, Tòa án cấp sơ th m t bị cáo Lê Minh Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, s a đ i, b sung năm 2017 là đúng ngư i, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, t về tính chất, mức độ, hậu quả phạm tội do bị cáo thực hiện thì Viện kiểm sát cho rằng Tòa án cấp sơ th m tuyên phạt bị cáo 05 năm tù là rất nghiêm khắc so với hành vi và trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt. Trong v án này, tài sản bị cáo chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại không có yêu cầu, bị cáo thành kh n khai báo, ăn năn hối cải có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng. Do đó, cần xem xét một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật nên đề nghị Hội đồng t phúc th m chấp nhận Quyết định kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân huyện B, s a bản án sơ th m theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Minh Q khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ th m và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo in được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa, Hội đồng t nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc th m, bị cáo Lê Minh Q đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với l i khai của bị cáo trong quá trình điều tra, bản cáo trạng và tại phiên tòa sơ th m như sau:
Vào khoảng 07 gi 30 phút, ngày 04/4/2019 tại C ng chợ T thuộc ã T, huyện B, tỉnh Bình Dương bị cáo Lê Minh Q s d ng đoản bẻ khóa 01 e mô tô hiệu Honda Future, biển số 61N1-041.13, trị giá 24.500.000 đồng của bà Lê Thị D và ông Phan Ngọc Đ, n máy chạy về thành phố Đ, tỉnh P đến nhà bà Hoàng Thị L thì bị bắt giữ cùng tang vật. Bị cáo Lê Minh Q là đối tượng có nhân thân ấu và có tiền án nhưng chưa được óa án tích mà lại tiếp t c phạm tội. Do đó, Tòa án cấp sơ th m phạt bị cáo Lê Minh Q về tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được s a đ i, b sung năm 2017 là có cơ s , đúng ngư i, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
Bị cáo Lê Minh Q có hành vi lợi d ng sơ h của chủ s hữu tài sản, lén lút chiếm đoạt tài sản của ngư i khác. Bị cáo biết rõ đây là hành vi trái pháp luật nhưng vì động cơ tham lam, tư lợi mà bị cáo bất chấp hậu quả vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền s hữu hợp pháp về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ.
Đối với kháng cáo của bị cáo về việc in giảm nhẹ hình phạt: Hội đồng t
t thấy, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Tòa án cấp sơ th m đã em t đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và áp d ng mức hình phạt 05 năm tù đối với bị cáo là phù hợp, tương ứng với hành vi, mức độ phạm tội của bị cáo. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý, bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị Tòa án xét x về hành vi trộm cắp tài sản nhưng sau khi chấp hành án xong bị cáo lại không biết ăn năn, hối cải mà lại tiếp t c phạm tội. Tại phiên tòa phúc th m, bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được tình tiết mới nên Hội đồng t không có cơ s chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ th m.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương là bị cáo có nhân thân ấu (tại các bản án năm 1993, 1996, 1998) về tội trộm cắp tài là đúng. Tại phiên tòa phúc th m, Hội đồng t
t thấy bị cáo có 03 tiền án (tại các bản án năm 2001, 2006, 2009) nhưng đại diện Viện Kiểm sát phát biểu cho rằng bị cáo có 02 tiền án đồng th i yêu cầu chấp nhận kháng nghị in giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, s a án sơ th m về hình phạt theo Quyết định kháng nghị Viện kiểm sát nhân dân huyện B là không phù hợp nên Hội đồng t không chấp nhận.
Các phần khác của quyết định án sơ th m không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết th i hạn kháng cáo, kháng nghị.
Án phí hình sự phúc th m: Bị cáo Lê Minh Q phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố t ng hình sự 2015, được s a đ i, b sung năm 2017;
1/ Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Minh Q và Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện B; giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ th m số 36/2019/HS-ST ngày 13/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Dương quyết định:
Áp d ng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được s a đ i, b sung năm 2017;
X phạt bị cáo Lê Minh Q 05 (năm) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Th i hạn tù tính từ ngày 04/4/2019.
2/ Về án phí hình sự phúc th m: Áp d ng Điều 136 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng v Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s d ng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Minh Q phải nộp 200.000 đồng.
3/ Các phần khác của quyết định án sơ th m không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết th i hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc th m có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Dương; 1 - TAND huyện B; 2 - VKSND huyện B; 1 - Chi c c THADS huyện B; 1 - Phòng PV06 - Công an tỉnh BD; 1 - Công an huyện B ; 1 - S Tư pháp tỉnh Bình Dương; 1 1 - Bị cáo. - Lưu: T HCTP, HSVA, Tòa HS. 3 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đặng Văn Chum |