vanban.org

Bản án 171/2018/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Cầu Giấy, TP. Hà Nội Tuyên án 16/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Lê Văn A – sinh năm 1989

Phạm tội “Trộm cắp tài sản” Bộ luật hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Lê Văn A – sinh năm 1989
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN CẦU GIẤY
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 171/2018/HS-ST
Ngày: 16/8/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hải

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Bùi Thị Minh Hoa

2. Ông Nguyễn Như Thanh

Thư ký phiên toà:

Ông Hà Ngọc Tiến - Thư ký Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy tham gia phiên toà:

Ông Nghiêm Đình Trọng – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2018 tại Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 177/2018/HSST ngày 26 tháng 7 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 170/2018/HSST - QĐ ngày 01 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:

LÊ VĂN A, sinh năm 1989; ĐKHK và trú tại: Cụm 3, xã T, huyện Đ, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 9/12; con ông Lê Văn B (c); con bà Trần Thị K;Danh chỉ bản: 000000236, lập ngày 29/4/2018, Công an quận Cầu Giấy; Tiền án, tiền sự: không; Vụ án này, bị cáo bắt khẩn cấp ngày 25/4/2018; Ngày 04/5/2018, Hủy bỏ tạm giữ, thay đổi biện pháp ngăn chặn, Cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

-Người bị hại: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1995; ĐKHK: Xã L, huyện P, tỉnh Phú Thọ.( vắng mặt)

-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:Anh Nguyễn Thành A, sinh năm 1999; ĐKHK: Xã V, huyện M, Thành phố Hà Nội.( vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 24/4/2018, Lê Văn A đi xe Bus từ xã T, huyện Đ, TP Hà Nội đến điểm dừng xe Bus trước tòa nhà Indochina đường Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội. Khi đi A mang theo 01 tay công bằng kim loại, 02 mũi vam phá khóa với mục đích trộm cắp tài sản. Xuống điểm dừng xe Bus, lúc đó khoảng 11h cùng ngày, A nhìn thấy 01 chiếc xe máy Honda Dream, biển kiểm soát: 23L1- 01x.xx do anh Nguyễn Văn N, Xã L, huyện P, tỉnh Phú Thọ điều khiển đến đỗ ở đó, không khóa cổ, khóa càng, dựng trước cửa tòa nhà Indochina, đuôi xe hướng ra ngoài đường Xuân Thủy. Quan sát không thấy ai trông coi, A đã dùng tay công phá khóa điện rồi nổ máy điều khiển xe theo hướng Xuân Thủy, Hồ Tùng Mậu đi về nhà tại Xã T, huyện Đ, TP Hà Nội. Về đến nhà, A tháo chiếc biển kiểm soát và hai mũi vam phá khóa cho vào cốp xe máy, sau đó A tiếp tục điều khiển xe máy đến nhà ông Đào Văn H, sinh năm 1965, địa chỉ Xã T, huyện Đ, TP Hà Nội để chơi, trên đường đi A đã vứt chiếc tay công phá khóa bằng kim loại xuống ao nước ở C. Khi đang ngồi chơi tại nhà ông H thì có lực lượng công an huyện Đan Phượng tiến hành kiểm tra chiếc xe có biểu hiện nghi vấn nên đã đưa A và chiếc xe máy Honda Dream trên về trụ sở làm việc. Ngoài ra còn thu giữ của A 02 đầu vam phá khóa.

Tại cơ quan điều tra, Lê Văn A đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Tiến hành dẫn giải A xác định được nơi thực hiện hành vi trộm cắp và nơi A đã ném chiếc tay công phá khóa nhưng không thu hồi được chiếc tay công phá khóa.

Kết luận định giá tài sản số 125 ngày 25/4/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Cầu Giấy xác định chiếc xe máy Honda Dream, biển kiểm soát: 23L1- 01x.xx trị giá: 5.610.000 đồng.

Qua tra cứu tại phòng cảnh sát giao thông - CATP Hà Nội xác định, chủ chiếc xe máy Honda Dream, biển kiểm soát: 23L1- 01x.xx là anh Nguyễn Nam G, địa chỉ: TT Công an huyện Quản Bạ - Hà Giang. Anh G khai mua xe và đăng ký năm 2012 để sử dụng, sau đó đã cho anh Nguyễn Anh T, trú tại số phường D, quận C, TP Hà Nội. Anh T khai được cho chiếc xe trên để sử dụng đến tháng 12/2017, anh T bán lại chiếc xe trên cho anh Nguyễn Thành A, trú tại xã V, huyện M, TP Hà Nội. Ngày 24/4/2018, anh A có cho anh Nguyễn Văn N mượn để đi lại sau đó bị mất trộm.

Ngày 26/6/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận Cầu Giấy đã trao trả lại cho anh Nguyễn Văn N chiếc xe máy Honda Dream, biển kiểm soát: 23L1-01x.xx. Anh N đã nhận tài sản và không yêu cầu gì về dân sự.

Tại bản cáo trạng số 179/CT-VKSCG ngày 24/7/2018 Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy đã truy tố Lê Văn A phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã công bố, thái độ ăn năn hối cải.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Văn A theo tội danh và điều luật được viện dẫn trong bản Cáo trạng số 179/CT-VKSCG ngày 24/7/2018 và đề nghị áp dụng khoản 1 điều 173, điểm i, s khoản 1 điều 51, điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo với mức án từ 08 tháng tù đến 12 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 điều 173 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Tịch thu tiêu hủy 02 vam phá khóa. Người bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Cầu Giấy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người bị hại, lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 24/4/2018, tại trước tòa nhà Indochina đường Xuân Thủy, quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội, lợi dụng sơ hở, Lê Văn A đã lén lút dùng vam phá khóa điện, chiếm đoạt chiếc xe máy Honda Dream, biển kiểm soát: 23L1-01x.xx do anh Nguyễn Văn N đang quản lý sử dụng. Chiếc xe máy trên anh N mượn của anh Nguyễn Thành A. Quá trình bị cáo đang sử dụng tài sản vừa chiếm đoạt được thì bị phát hiện, bắt giữ. Tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị là 5.610.000 đồng.

Hành vi của Lê Văn A đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản", tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn thể hiện sự ăn năn hối cải, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.

Trách nhiệm hình sự và hình phạt:

Bị cáo A, sinh năm 1989, bị cáo cư trú ngay tại Hà Nội, bị cáo đã có đủ năng lực, nhận thức để biết hành vi nào là hành vi vi phạm pháp luật. Nhưng do lười lao động, muốn kiếm tiền bằng con đường bất chính, bất chấp các quy định của pháp luật, bị cáo vẫn lợi dụng sơ hở lén lút chiếm đoạt tài sản thể hiện thái độ coi thường pháp luật. Trước khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có sự chuẩn bị công cụ phương tiện như tự chế tay công và vam phá khóa để thực hiện hành vi phạm tội. Sau khi chiếm đoạt được tài sản, bị cáo đã chủ động tháo biển kiểm soát xe máy để tránh bị phát hiện thể hiện ý thức của bị cáo thực hiện hành vi với lỗi chủ quan, cố ý. Do vậy, căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và đáp ứng công tác răn đe phòng ngừa chung. Khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét đến tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng theo điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Hạn tù của bị cáo kể từ ngày bắt thi hành án và được trừ đi 10 ngày tạm giữ (25/4/2018 đến 04/5/2018). Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, tài sản đã trả người bị hại nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 điều 173 Bộ luật hình sự.

Xử lý tang vật vụ án và án phí: Chiếc xe máy là tang vật đã trả người bị hại, người bị hại không có yêu cầu về dân sự nên không xét. Đối với 02 chiếc vam phá khóa thu giữ của bị cáo cho tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố:

Lê Văn A – sinh năm 1989

Phạm tội “Trộm cắp tài sản”

1. Căn cứ vào: khoản 1 điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 38

Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Lê Văn A 10 ( Mười) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Hạn tù kể từ ngày bắt thi hành án và được trừ đi 10 ngày tạm giữ (25/4/2018 đến 04/5/2018).

2. Căn cứ vào: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 21, Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/ UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án và danh mục kèm theo.

Xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) đầu Vam phá khóa hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cầu Giấy - Biên bản giao nhận vật chứng số 217 GN/THA-CA ngày 25/7/2018.

Bị cáo Lê Văn A phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo phần liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Cỡ chữ