- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Việt H - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 33 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Án số: 171/2017/HSST Ngày 11 tháng 10 năm 2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Ông Trần Hồng Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1.Bà Phạm Thị Thu Oanh
2. Bà Tô Thị Thanh Tâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Khánh Linh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên sơ cấp
Hôm nay, ngày 11 tháng 10 năm 2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình mở phiên tòa sơ thẩm, xét xử công khai vu ̣ án hinh sự thu ̣ lý
số
̀ 160/2017/HSST ngày 21 tháng 9 năm 2017, quyết đi ̣nh đưa vu ̣ án ra xét xử số 188/2017/QĐXX - ST ngày 29 tháng 9 năm 2017, đối vớ i bi ̣ cáo:
Ngô Việt H (tức HC) - sinh ngày 03/03/1986 tại T; Nơi cư trú: Số nhà 06, ngõ 22, đường B, tổ 15, phường B, thành phố T, tỉnh T; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 09/12; Con ông Ngô Việt H và bà Trần Thị K; chưa có vợ, con; Tiền án: - Bản án số 42/2003/HSST ngày 24/4/2003 của Tòa án nhân dân thị xã T (nay là thành phố T) xử phạt bị cáo 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 24/4/2003 về tội “Cưỡng đoạt tài sản”; - Bản án số 25/2004/HSST ngày 18/3/2004 của Tòa án nhân dân thị xã T (nay là thành phố T) xử phạt 12 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Chuyển 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo tại bản án số 42/HSST ngày 24/4/2003 sang thành 12 tháng tù giam, tổng hợp hình phạt chung là 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/11/2003 được trừ đi 51 ngày đã tạm giam; - Bản án số 152/HSST ngày 21/12/2006 của Tòa án nhân dân thành phố T xử phạt 08 năm tù về tội “Cướp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 11/8/2006; - Bản án số 104/HSST ngày 02/7/2014 của Tòa án nhân dân thành phố T xử phạt 03 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 02/4/2014; Tiền sự: Không; Bị tạm giữ từ ngày 29/7/2017 đến ngày 01/8/2017 chuyển ta ̣m giam cho đến nay . Hiê ̣n bị cáo đang bi ̣ tạm giam tại n hà tạm giữ Công an thành phố Thái Bình
, tỉnh Thái Bình . (Trích xuất có mặt.)
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Đỗ Văn C - sinh năm 1990.
Trú tại: Thôn V, xã V, huyện V, tỉnh T.
(Vắ ng mặt)
Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Mạnh H - sinh năm 1949
Trú tại: số nhà 52, tổ 21, phường B, thành phố T, tỉnh T.
(Vắ ng mặt)
- Ông Phạm Ngọc T - sinh năm 1950
Trú tại: số nhà 18, tổ 12, phường B, TP T, tỉnh T.
(Vắ ng mặt)
- Bà Nguyễn Thúy M - sinh năm 1952
Trú tại: số nhà 04/06, tổ 15, phường B, TP T, tỉnh T.
(Vắ ng mặt)
- Ông Nguyễn Hải A - sinh năm 1952
Trú tại: SN 01, ngõ 22, tổ 15, phường B, TP T, tỉnh T.
(Vắ ng mặt)
- Ông Ngô Việt H - sinh năm 1957
Trú tại: số nhà 06, ngõ 22, tổ 15, phường B, TP T, tỉnh T.
(Vắ ng mặt)
NỘI DUNG VỤ Á N:
Theo các tài liê ̣u có trong hồ sơ vu ̣ án và diễn biến ta ̣i phiên tòa , nô ̣i dung vu ̣ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11giờ ngày 28/7/2017, Ngô Việt H (tức HC) đi bộ từ nhà đến khu vực đê T, thuộc tổ 16, phường B, thành phố T, tỉnh T với mục đích mua ma túy về bán kiếm lời. Tại đây, H gặp và mua của một người nam giới khoảng 35tuổi không biết tên, địa chỉ 01 túi ma túy đá với giá 600.000đồng. H nhận túi ma túy cất vào túi quần phải đang mặc đi về nhà. Lợi dụng không có ai ở nhà, H lấy túi ma túy mua được ra chia thánh 03 túi nhỏ, 01túi cất trên kệ để máy tính trong phòng ngủ tầng hai, 01 túi cho vào túi quần phải đang mặc để có ai hỏi mua thì bán, còn 01túi H lấy một lượng nhỏ ma túy để sử dụng thử chất lượng, số ma túy còn lại H gói lại và cất trong túi giả da màu nâu để trên giường ngủ tầng hai. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày H mang theo 01 gói ma túy đá ra đầu ngõ 22, đường B, tổ 15, phường B, thành phố T mục đích có ai hỏi sẽ bán kiếm lời, đến khoảng 18 giờ 10 phút cùng ngày khi H đang đứng một mình ở đầu ngõ 22, đường B có Đỗ Văn C đến gặp H hỏi mua 300.000đồng ma túy đá. Cấp đưa cho H 01 tờ mệnh giá 500.000 đồng, H nhận tiền rồi lấy từ túi quần phải đang mặc đưa cho C 01gói ma túy đá. Khi C vừa nhận gói ma túy cất vào túi quần trái đang mặc thì bị lực lượng Công an thành phố Thái Bình phát hiện yêu cầu H và C cùng hai người làm chứng về trụ sở Công an phường B, thành phố T để kiểm tra. Qua kiểm tra thu tại túi quần của C đang mặc 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, C khai nhận là gói ma túy đá C vừa mua của H với giá 300.000đồng mục đích sử dụng cho bản thân, tổ công tác niêm phong(ký hiệu M1). Kiểm tra người H thu tại túi quần hậu phải đang mặc 01ví giả da màu nâu trong có 1.200.000 đồng, H khai trong đó có tờ 500.000 đồng H vừa bán gói ma túy đá cho C với giá 300.000 đồng chưa kịp trả lại tiền thừa cho C thì bị bắt giữ. Thu tại túi quần phải của H 01điện thoại Nokia X3 và 01 điện thoại Nokia 1280 màu xanh đen. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng.
Cùng ngày, Cơ quan Cánh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Ngô Việt H. Thu trên kệ để máy tính ở phòng ngủ tầng hai của H 01 túi ni lon màu trắng, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, niêm phong (ký hiệu M2); thu trên trên giường ngủ tầng hai của H 01túi giả da màu nâu bên trong có 01 cân điện tử màu đen trắng và 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, được niêm phong (ký hiệu M3); thu dưới gầm giường phòng ngủ tầng hai của H 01bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá; thu trên giường ngủ tầng hai của H 01 túi nilon bên trong có 17 túi nilon màu trắng đều có mép cài.
Tại bản Kết luận giám định số 330/KLGĐ - PC54 ngày 28/7/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luâ ̣n: Mẫu M1 gử i giám đi ̣nh là ma túy, loại Methamphetamine có trọng lượng 0,1680 gam (không phẩy một nghìn sáu trăm tám mươi gam). Mẫu M2 gử i giám đi ̣nh là ma túy, loại Methamphetamine có trọng lượng 0,6724 gam (không phẩy sáu nghìn bảy trăm hai bốn gam). Mẫu M3 gử i giám đi ̣nh là ma túy, loại Methamphetamine có trọng lượng 0,5400gam (không phẩy năm nghìn bốn trăm gam).
Bản cáo trạng số 171/KSĐT ngày 21 tháng 9 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bi nh truy tố bi ̣ cáo Ngô Việt H về tô ̣i “Mua bán trái phép
̀ chất ma túy” theo điểm p khoản 2 Điều 194 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự.
̀
Trong quá trinh điều tr a và ta ̣i phiên tòa Ngô Việt H đa khai nhâ ̣̃
n toàn bô ̣
̀ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Tại phiên tòa , đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát nhân dân thành phố Thái Binh giữ
̀ nguyên quan điểm truy tố Ngô Việt H về tô ̣i “ Mua bán trái phép chất ma túy ”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp du ̣ng điểm p khoản 2; khoản 5 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt bị cáo mứ c án từ 07 năm đến 08 năm tù. Thờ i ha ̣n tù tinh từ ngày bi ̣ cáo bi ̣ ta ̣m giữ 29/7/2017. Hình phạt bổ sung:
́ Phạt tiền bị cáo từ 05 triệu đồng đến 07 triệu đồng sung quỹ nhà nước.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 41 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự và Điều 76 Bô ̣ luâ ̣t tố
̀ tụng hình sự. Đề nghị: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy (Methaphetamine) hoàn lại sau giám định niêm phong trong 03 phong bì số 330/KLGĐ - PC54 (mẫu M1, M2, M3) . Tịch thu 01cân điện tử, 01 bộ sử dụng ma túy đá, 01 túi giả da và 01 túi nilon trong có 17 túi nilon màu trắng để tiêu hủy; Tịch thu số tiền 500.000 đồng thu của Ngô Việt H (gồm 300.000đồng do phạm tội mà có và 200.000đồng của anh C không yêu cầu nhận lại) để sung quỹ nhà nước. Trả lại cho Ngô Việt H 01ví giả da; 02 điện thoại di động (Nokia X3 và Nokia 1280 màu xanh) và số tiền 700.000đồng. Nhưng quản lý để đảm bảo thi hành án
Trướ c khi Hô ̣i đồng xét xử vào phòng ngh ị án, bị cáo trình bà y lờ i nói sau cùng, xin Hô ̣i đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
̀
NHẬN ĐI ̣NH CỦ A HỘI ĐÔNG XÉ T XƢ̉ :
Trên cơ sở nô ̣i dung vu ̣ án , căn cứ vào các tài liê ̣u trong hồ sơ vu ̣ án đa đượ̃
c thẩm tra, xét hỏi, tranh luâ ̣n ta ̣i phiên tòa, Hô ̣i đồng xét xử nhâ ̣n thấy như sau:
Về hành vi, quyết đi ̣nh tố tu ̣ng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Bình, Điều tra viên , Viê ̣n kiểm sát nhân dân thành phố Thái Binh , Kiểm sát viên
̀ trong quá trinh điều tra, truy tố đa thự̃
c hiê ̣n đúng về thẩm quyền , trình tự, thủ tục
̀ quy đi ̣nh của Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hinh sự . Quá trình điều tra và tại phiên tòa , bị cáo,
̀ người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoă ̣c khiếu na ̣i về hành v i, quyết đi ̣nh của Cơ quan tiến hành tố tu ̣ng, ngườ i tiến hành tố tu ̣ng. Do đó, các hành vi, quyết đi ̣nh tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng , ngườ i tiến hành tố tu ̣ng đa thự̃
c hiê ̣n đúng theo quy định của pháp luật.
Lờ i khai củ a bi ̣ cáo ta ̣i phiên tòa như đã khai tại cơ quan điều tra phù hợp với lờ i khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Đỗ Văn C (BL 56 - 61); lời khai của những ngườ i làm chứ ng là ông Nguyễn Mạnh H (BL 39 - 42), ông Phạm Ngọc T (BL43 - 46); bà Nguyễn Thúy M (BL47 - 48); ông Nguyễn Hải A (BL49 - 50) và ông Ngô Việt H (BL 51-52) được chứng minh bằng các tài liệu , chứ ng cứ : Biên bản bắt ngườ i pha ̣m tô ̣i quả tang (BL 03-06); Biên bản khám xét chỗ ở của Ngô Việt H (BL20 - 21); Biên bản niêm phong vâ ̣t chứ ng (BL 20) và bản kết luận giám đi ̣nh số 330 ngày 28/7/2017 (BL 26) cùng các tài liệu, chứ ng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Đã có đủ cơ sở kết luận: khoảng 18 giờ 15 phút ngày 28/7/2017, tại khu vực ngõ 22, đường B, tổ 15, phường B, thành phố Thái Bình, Ngô Việt H đã thực hiện hành vi bán trái phép 01gói ma túy(loại Methamphetamine) có trọng lượng 0,1680 gam cho Đỗ Văn C lấy 300.000 đồng. Ngoài ra Ngô Việt H còn cất giấu tại nơi ở 02 gói ma túy(loại Methamphetamine) có trọng lượng 1,2124 gam với mục đích để bán kiếm lời.
Bị cáo là người trên 18 tuổi, có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của minh.
̀
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội , xâm pha ̣m chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất gây nghiê ̣n. Ma túy là chất cấm lưu hành, bởi tác hại của nó khi sử dụng không những làm sa sút về sức khỏe trí tuệ mà còn hủy hoại đạo đức nhân cách con người, là tác nhân lan truyền đại dịch HIV/AIDS đồng thời là nguồn gốc phát sinh các tội phạm khác trong xã hội.
Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy và mua bán trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn thực hiện.
Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tô ̣i“Mua bán trái phép chất ma túy” . Bị cáo có 04 tiền án chưa được xóa phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm p khoản 2 Điều 194 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự năm 1999.
̀
Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 quy đi ̣nh:
“1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
2, Ph¹m téi mét trong c¸c tr êng hîp sau ®©y th× bÞ ph¹t tï tõ b¶y n¨m ®Õn m êi l¨m n¨m.
a,…
p, T¸i ph¹m nguy hiÓm”.
Xét nhân thân và các tình tiết tăng nă ̣ng, giảm nhe ̣ trách nhiệm hinh sự của bi ̣
̀ cáo thấy. Ngoài tình tiết tăng nặng định khung hình phạt (Tái phạm nguy hiểm). Bị cáo không chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào khác.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưở ng tinh tiết giảm nhe ̣ quy đ ịnh tại
̀ điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tinh chất , mứ c đô ̣ pha ̣m tô ̣i , tình tiết giảm nhe ̣ trách nhiê ̣m hinh
́
̀ sự và nhân thân của bi ̣ cáo , HĐXX cần lên mô ̣t mứ c án tương xứ ng vớ i hà nh vi phạm tội và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian cần thiết mớ i đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Bị cáo thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy vớ i mu ̣c đich kiếm lời.
́ Cần áp dụng hình phạt bổ sung, phạt tiền bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự.
Về nguồn gốc số ma túy, bị cáo khai mua ma túy của mô ̣t ngườ i đàn ông khoảng 35 tuổi, không quen biết ở khu vực đê T, thuộc tổ 16, phường B, thành phố T. Qúa trình điều tra không xác đi ̣nh được ngườ i bán ma túy cho bi ̣ cáo nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xử lý.
Đối với Đỗ Văn C là người đã mua gói ma túy của bị cáo ngày 28/7/2017 mục đích sử dụng cho bản thân nhưng trọng lượng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đỗ văn C là phù hợp.
Việc bị cáo Ngô Việt H khai ngày 28/7/2017 một mình đã sử dụng một lượng nhỏ ma túy đá, ngoài lời khai bị cáo không có căn cứ nào khác để chứng minh nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
Về xử lý vâ ̣t chứ ng : Toàn bộ số ma túy bị thu giữ hoàn lại sau giám định là chất cấm lưu hành cùng 01 cân điện tử, 01 bộ sử dụng ma túy đá; 01 túi giả da và 01 túi ni lon (bên trong có 17 túi nilon màu trắng) không còn giá trị sử dụng cần ti ̣ch thu tiêu hủy.
Số tiền 300.000đồng thu của bị cáo (do phạm tội mà có) và số tiền 200.000 đồng H (chưa kịp trả lại cho anh C, nhưng anh C không yêu cầu). Cộng là 500.000 đồng tịch thu sung công quỹ nhà nước.
Trả lại cho bị cáo Ngô Việt H 01ví giả da; 02 chiếc điện thoại di động (Nokia X3 và Nokia 1280) cùng số tiền 700.000đồng. Nhưng quản lý để đảm bảo thi hành án.
Về án phi: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
́
Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thờ i ha ̣n luâ ̣t đi ̣nh.
Vì các lẽ trên,
́
QUYÊT ĐI ̣NH
1. Tuyên bố : Bị cáo Ngô Việt H (tức HC) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tú y”.
2. Hình phạt: Áp dụng điểm p khoản 2; khoản 5 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật Hình sự 1999.
- Xử pha ̣t bi ̣ cáo Ngô Việt H (tức HC) 07(bảy) năm tù. Thờ i ha ̣n chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 29/7/2017.
- Hình phạt bổ sung: Phạt Ngô Việt H (tức HC) 5.000.000 (năm triệu) đồng sung quỹ nhà nước.
3. Về xƣ̉ lý vâ ̣t chƣ́ n g: Áp dụng Điều 41 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự và Điều 76 Bô ̣ luâ ̣t
̀ tố tu ̣ng hinh sự;
̀
- Tịch thu tiêu hủy 1,2566 gam Methaphetamine cùng bao gói gồm 03 phong bì niêm phong số 330/KLGĐ - PC54 (mẫu M1, M2, M3) hoàn trả sau giám định .
- Tịch thu 01cân điện tử; 01 bộ sử dụng ma túy đá; 01 túi giả da và 01 túi nilon trong có 17 túi nilon màu trắng để tiêu hủy.
- Tịch thu số tiền 500.000đồng thu của Ngô Việt H (gồm 300.000đồng do phạm tội mà có và số tiền 200.000đồng còn lại của anh C) để sung quỹ nhà nước.
- Trả lại cho Ngô Việt H 01ví giả da; 02 điện thoại di động (Nokia X3 và Nokia 1280 màu xanh) và số tiền 700.000 đồng. Nhưng quản lý để đảm bảo thi hành án.
( Vật chứng đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/9/2017)
4.Về á n phí : Áp dụng Điều 99 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hinh sự ; Nghị quyết số
̀ 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Ngô Việt H phải nô ̣p 200.000 đồng án phi hinh sự sơ thẩm.
́ ̀
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Án tuyên công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 11/10/2017. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (anh Đỗ Văn C) vắng mặt có quyền kháng cáo bản án nh÷ng vÊn ®Ò trùc tiÕp liªn quan ®Õn quyÒn lîi, nghÜa vô cña m×nh trong h¹n 15 ngµy kÓ tõ nhận được bản án./. Nơi nhâ ̣n:
̀
̉
| - Bị cáo, ngườ i có quyền lợi và NVLQ - VKSND TP. Thái Bình; - Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình; - Sở Tư phá p tỉnh Thái Bình; - Chi cục THADS TP.Thái Bình; - Công an thà nh phố Thá i Bình; - Phòng PC81-CAT; - Trại tạm giam CAT; - Lưu hồ sơ vụ á n. | T/M HỘI ĐÔNG XÉ T XƢ̉ SƠ THÂM Thẩm phan - Chủ tọa phiên tòa ́ (Đã ký) Trần Hồng Sơn |