vanban.org

Bản án 170/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Mỹ N.

Về hôn nhân: Xử cho bà Đặng Mỹ N ly hôn với ông Hà Văn V. Về con chung: Giao cháu Hà M – sinh ngày 28/01/2010 cho bà Đặng Mỹ N tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Mỹ N.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 170/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 28/5/2026.
V/v: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thùy Trang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Vũ.

2. Bà Nguyễn Thị Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Diễm Trang – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 -An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - An Giang tham gia phiên toà: Ông Danh Vũ Hải – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 05 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 518/2025/TLST- HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2025, về việc: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 203/2026/QĐXXST-HNGĐ, ngày 23 tháng 4 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 175/2026/QĐST-HNGĐ, ngày 11 tháng 5 năm 2026, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Đặng Mỹ N - sinh năm 1981, có đơn xin vắng mặt.

Địa chỉ: ấp T, xã Đ, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: Ông Hà Văn V - sinh năm 1981, vắng mặt.

Địa chỉ: ấp T, xã Đ, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/12/2025, bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn bà Đặng Mỹ N như sau:

Bà và ông Hà Văn V cưới nhau từ năm 2002, hôn nhân tự nguyện, vợ chồng ông bà có tổ chức đám cưới theo phong tục, vợ chồng ông bà đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang vào ngày 14/7/2006.

Vợ chồng sống chung hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do chồng bà ghen tuông vô cớ, kiếm chuyện chửi bới vợ con, về kinh tế ông V làm thì tiền bỏ túi riêng, mọi sinh hoạt trong gia đình do bà tự lo, ông V không biết lo lắng cho gia đình, vợ con. Hiện vợ chồng không còn khả năng chung sống với nhau được nữa và bà không còn tình cảm với ông Hà Văn V nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Hà Văn V.

Thời gian chung sống vợ chồng ông bà có 02 người con chung tên Hà Trọng N1 – sinh ngày 28/6/2004 đã trưởng thành và Hà M – sinh ngày 28/01/2010, hiện nay bà đang nuôi dưỡng.

Về tài sản chung: Vợ chồng ông bà không có tài sản chung.

Về nợ chung: Bà cam đoan vợ chồng bà không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nguyện vọng:

Về hôn nhân: Bà xin được ly hôn với ông Hà Văn V.

Về con chung: Bà xin nuôi con chung tên Hà M – sinh ngày 28/01/2010. Bà không yêu cầu ông Hà Văn V cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Hà Văn V đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng ông Hà Văn V không đến Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến hay bất cứ yêu cầu nào của ông Hà Văn V.

- Phát biểu của kiểm sát viên - đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - An Giang tại phiên tòa:

Về việc tuân thủ theo pháp luật về tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã tuân thủ các thủ tục về thụ lý vụ án, xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách đương sự, thẩm quyền giải quyết vụ kiện; Việc thu thập tài liệu, chứng cứ, cấp tống đạt cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát đúng quy định; Thủ tục công khai chứng cứ và hòa giải đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký và đương sự chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt không có lý do là không tuân thủ pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của đương sự, đối chiếu với các quy định của pháp luật, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử xử cho bà Đặng Mỹ N được ly hôn với ông Hà Văn V. Về con chung, đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Hà M – sinh ngày 28/01/2010 cho bà Đặng Mỹ N tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung và nợ chung đương sự không yêu cầu nên Viện kiểm sát không có đề nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Tranh chấp giữa bà Đặng Mỹ N và ông Hà Văn V là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang theo quy định tại Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2025.

Ông Hà Văn V là bị đơn trong vụ án, ông Hà Văn V có địa chỉ rõ ràng, đó cũng là nơi ông đăng ký hộ khẩu thường trú, hiện nay ông Hà Văn V vẫn còn hộ khẩu thường trú ở địa chỉ trên. Tòa án đã niêm yết các thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông Hà Văn V vắng mặt tại phiên tòa 02 lần không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông Hà Văn V.

Bà Đặng Mỹ N có đơn xin vắng mặt, xét thấy việc vắng mặt của bà Đặng Mỹ N không làm ảnh hưởng đến quá trình xét xử cũng như nội dung vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà Đặng Mỹ N.

Về hôn nhân: Bà Đặng Mỹ N và ông Hà Văn V cưới nhau từ năm 2002, hôn nhân tự nguyện, vợ chồng ông bà có tổ chức đám cưới theo phong tục và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 56/2006, ngày 14/7/2006, như vậy Hội đồng xét xử xác định hôn nhân của bà Đặng Mỹ N và ông Hà Văn V là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Xét về quan hệ hôn nhân cho thấy: Tuy hôn nhân của bà Đặng Mỹ N và ông Hà Văn V là hôn nhân tự nguyện, ông bà sống hạnh phúc từ năm 2002 đến năm 2016 khoảng 14 năm và có 02 người con chung nhưng vợ chồng ông bà đã phát sinh mâu thuẫn không tự giải quyết được. Bà Đặng Mỹ N cho rằng do chồng bà ghen tuông vô cớ, kiếm chuyện chửi bới vợ con, về kinh tế ông V làm được tiền bỏ túi riêng, mọi sinh hoạt trong gia đình do bà tự lo, ông không biết lo lắng cho gia đình và vợ con. Ngày 19/3/2026, ngày 06/4/2026 và ngày 23/4/2026, Tòa án đã tổ chức hòa giải để động viên, giải thích giúp vợ chồng ông bà đoàn tụ nhưng ông Hà Văn V vắng mặt. Xét thấy, vợ chồng ông bà đã phát sinh mâu thuẫn tính đến ngày xét xử đã hơn 09 năm, trong thời gian này bà Mỹ N và ông Hà Văn V không tìm được tiếng nói chung, khi Tòa án mời ông Hà Văn V đến Tòa án để hòa giải để động viên, giải thích giúp vợ chồng ông bà đoàn tụ mặc dù ông Hà Văn V có mặt ở nhà và biết được việc Tòa án mời làm việc nhưng ông Hà Văn V không đến Tòa án cho thấy ông không còn quan tâm gì đến cuộc hôn nhân này và cho thấy mục đích hôn nhân của ông bà không đạt được. Bà Đặng Mỹ N cương quyết xin ly hôn với ông Hà Văn V và tỏ rõ thái độ không còn tình cảm yêu thương ông Hà Văn V, vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Đặng Mỹ N.

Về con chung: Bà Đặng Mỹ N và ông Hà Văn V có 02 người con chung tên Hà Trọng N1 – sinh ngày 28/6/2004 đã trưởng thành và Hà M – sinh ngày 28/01/2010 hiện nay bà đang nuôi dưỡng.

Ông Hà Văn V không có ý kiến về quyền nuôi con. Bà Đặng Mỹ N xin nuôi con chung tên Hà M – sinh ngày 28/01/2010 và cháu Hà M có nguyện vọng sống chung với mẹ nên căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Đặng Mỹ N.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Đặng Mỹ N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Đặng Mỹ N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Tại phiên tòa sau khi xem xét các tài liệu chứng cứ, đại diện Viện kiểm sát có quan điểm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xét đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí HNGĐST: Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí. Bà Đặng Mỹ N phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0011986, ngày 17/12/2025, của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56 và Điều 58 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Áp dụng Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 238, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2025.

Áp dụng Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.

1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Mỹ N.

Về hôn nhân: Xử cho bà Đặng Mỹ N ly hôn với ông Hà Văn V.

Về con chung: Giao cháu Hà M – sinh ngày 28/01/2010 cho bà Đặng Mỹ N tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Ông Hà Văn V được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Không ai được phép cản trở ông thực hiện quyền này.

Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.

Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Đặng Mỹ N phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí trước đây theo biên lai thu số 0011986, ngày 17/12/2025, của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.

3. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

4. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7, Điều 7a, Điều 7b Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM/. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ