vanban.org

Bản án 170/2025/DSST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V.

Buộc chị Đỗ Thị T2 phải có trách nhiệm thanh toán trả cho Ngân hàng TMCP V theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 09/12/2021 và Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dị… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 119 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11- HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------
Bản án số:170/2025/DSST
Ngày: 29/08/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11- HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tự Hiếu

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thế Ngọc và bà Lê Thị Thu Hạnh

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Liên – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 08 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 11 - Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 119/2025/DS-ST ngày 16/05/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:21/2025/QĐXX ngày 18/07/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 37/2025/QĐ-HPT ngày 11/08/2025, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V (tên viết tắt VPBank)

Trụ sở: Số X phố L, phường L, quận Đống Đa, TP. Hà Nội (nay là phường Đ, TP. Hà Nội)

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vương Văn T, chức vụ: Trưởng bộ phận xử lý nợ, ông Ngô Chí T1 và ông Phạm Quang H, chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ theo Văn bản ủy quyền số 01/2025/UQ-KHCN ngày 01/08/2025 của ông Nguyễn Hồng B, chức vụ: Trưởng phòng xử lý nợ trên cơ sở Văn bản ủy quyền số 30/2025/UQN-CTQT ngày 28/07/2025 của ông Ngô Chí D – Chủ tịch Hội đồng quản trị là người đại diện theo pháp luật của Ngân hàng TMCP V

(Ông Văn T, Chí T1 và ông H vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

* Bị đơn: Chị Đỗ Thị T2, sinh năm 1988

Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội (nay là xã Đ, TP. Hà Nội).

(Chị T2 vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện và các lời khai tại Toà án, nguyên đơn là Ngân hàng TMCP V do ông Phạm Quang H trình bày:

Chị Đỗ Thị T2 đã vay vốn của VPBank theo các Hợp đồng như sau:

- Ngày 09/12/2021, chị Đỗ Thị T2 ký Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 09/12/2021. Nội dung: Ngân hàng cấp cho chị T2 thẻ tín dụng VPBank MC2 MasterCard, hạn mức thẻ 50.000.000 đồng. Mã số thẻ trên hệ thống 324-P-6731404, thời hạn vay 60 tháng, mục đích vay tiêu dùng cá nhân. Lãi suất thẻ tại thời điểm vay 41,88%/năm tương đương 3,49%/tháng theo quyết định số 354/2019/QĐ-TGĐ ngày 31/05/2019. Đến ngày 20/10/2022, lãi suất thẻ được điều chỉnh thành 47,88%/năm tương đương 3,99%/tháng theo quyết định số 800/2022/QĐ-GĐK ngày 20/10/2022

Quá trình thực hiện hợp đồng, chị T2 đã trả cho Ngân hàng được số tiền nợ gốc là 755.130 đồng, sau đó chị T2 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, khoản vay bị chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 26/01/2024. Tính đến ngày 29/08/2025, chị Đỗ Thị T2 còn nợ VPBank các khoản gồm: Nợ gốc là 49.244.870 đồng, nợ lãi quá hạn là 56.394.470 đồng, Lãi chậm trả 8.992.214 đồng. Cộng là 114.631.554

- Ngày 30/08/2022, chị Đỗ Thị T2 có ký Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện tử. Nội dung: hạn mức thấu chi đề nghị vay 200.000.000 đồng, mục đích phục vụ nhu cầu đời sống, thời hạn cho vay 48 tháng. Lãi suất cho vay trong hạn đối với khoản vay từng lần thời hạn cho vay đến 12 tháng: lãi suất cho vay tối đa là 26% được cố định trong 3 tháng kể từ ngày giải ngân sau đó điều chỉnh 1 tháng 1 lần, đối với khoản vay có thời hạn trên 12 tháng, điều chỉnh 3 tháng 1 lần.

Quá trình thực hiện hợp đồng, chị T2 đã sử dụng số tiền 109.900.000 đồng, đã trả được số tiền nợ gốc là 26.677.496 đồng, nợ lãi trong hạn là 31.080.905 đồng, lãi quá hạn là 2.203.157 đồng, sau đó chị T2 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, khoản vay bị chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 15/12/2023. Tính đến ngày 29/08/2025, chị Đỗ Thị T2 còn nợ VPBank các khoản gồm: Nợ gốc là 83.222.629 đồng, lãi trong hạn là 4.107.913 đồng, lãi quá hạn là 55.329.680 đồng. Cộng: 142.660.097 đồng

Chị T2 còn nợ ngân hàng theo 02 Hợp đồng tín dụng nêu trên tính đến ngày 29/08/2025 các khoản gồm: Nợ gốc là 132.467.499 đồng, nợ lãi trong hạn là 4.107.913 đồng, lãi quá hạn là 111.724.150 đồng, Lãi chậm trả 8.992.214 đồng. Tổng cộng là 257.291.651 đồng.

Nay ngân hàng khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết:

- Buộc chị Đỗ Thị T2 phải thanh toán cho VPBank toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi theo 02 Hợp đồng tín dụng nêu trên, số tiền tạm tính đến ngày 29/08/2025 các khoản gồm: Nợ gốc là 132.467.499 đồng, nợ lãi trong hạn là 4.107.913 đồng, lãi quá hạn là 111.724.150 đồng, lãi chậm trả lãi là Lãi chậm trả 8.992.214 đồng. Tổng cộng là 257.291.651 đồng.

+ Kể từ ngày 30/08/2025, chị T2 tiếp tục phải chịu lãi suất theo quy định tại Hợp đồng tín dụng nêu trên cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.

+ Trường hợp chị T2 không thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, VPB được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xác minh, kê biên phát mại tài sản của chị T2 để thu hồi khoản nợ vay.

* Chị Đỗ Thị T2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, do đó không có lời khai.

Tại phiên tòa:

- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt

- Bị đơn là chị Đỗ Thị T2 vắng mặt không có lý do.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Hà Nội phát biểu ý kiến:

Tòa án thụ lý vụ án theo đúng quy định pháp luật. Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Thẩm phán đã xác định đúng và đầy đủ tư cách tham gia tố tụng của nguyên đơn, bị đơn. Về thu thập tài liệu chứng cứ, tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 97, Điều 208, Điều 209, Điều 210, Điều 211 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đã thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn là anh Đỗ Thị T2 mặc dù đã được tống đạt hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” của Ngân hàng TMCP V đối với chị Đỗ Thị T2

2. Buộc chị Đỗ Thị T2 phải thanh toán trả cho Ngân hàng TMCP V theo 02 Hợp đồng tín dụng đã ký kết số tiền tạm tính đến ngày 29/08/2025, các khoản gồm: Nợ gốc là 132.467.499 đồng, nợ lãi trong hạn là 4.107.913 đồng, lãi quá hạn là 111.724.150 đồng, lãi chậm trả lãi là Lãi chậm trả 8.992.214 đồng. Tổng cộng là 257.291.651 đồng.

Buộc chị Đỗ Thị T2 tiếp tục phải trả lãi theo lãi suất được thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán hết toàn bộ khoản vay.

3. Về án phí: Chị Đỗ Thị T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

. Về thẩm quyền: Nguyên đơn là Ngân hàng TMCP V có đơn khởi kiện yêu cầu chị Đỗ Thị T2 trả tiền nợ vay. Căn cứ vào Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 09/12/2021 và Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 30/08/2022, giữa Ngân hàng và chị Đỗ Thị T2 đã xác lập quan hệ tín dụng vay tài sản, mục đích vay là để phục vụ đời sống. Do đó, Ngân hàng TMCP V khởi kiện yêu cầu chị Đỗ Thị T2 trả số tiền còn nợ. Đây là vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Chị Đỗ Thị T2 có nơi thường trú tại: Thôn P, xã H, huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội (nay là xã Đ, TP. Hà Nội). Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì nay là Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hà Nội có thẩm quyền giải quyết vụ án.

. Về tố tụng:

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho chị Đỗ Thị T2: Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, thông báo về phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ, phiên hòa giải nhưng chị T2 đều vắng mặt không có lý do.

Ngày 18/07/2025, Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hà Nội ra quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXX và ấn định phiên tòa được mở vào hồi 14 giờ 00’ ngày 11/08/2025. Quyết định đưa vụ án ra xét xử đã được tống đạt hợp lệ cho chị T2. Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 11/08/2025, chị T2 không có mặt. Tòa án ra Quyết định hoãn phiên tòa và ấn định phiên tòa tiếp theo được mở vào hồi 14 giờ 00’ ngày 29/08/2025. Quyết định hoãn phiên tòa được tống đạt hợp lệ cho chị T2 theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 29/08/2025, chị T2 vẫn vắng mặt không có lý do, đồng thời đại diện nguyên đơn vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

. Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V

Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 09/12/2021 và Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 30/08/2022 do Ngân hàng cung cấp cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thì có đủ cơ sở xác định giữa chị Đỗ Thị T2 và Ngân hàng có quan hệ vay tiền

Các văn bản tín dụng trên đều được các bên ký kết tự nguyện, những người tham gia ký kết có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, đúng thẩm quyền, nội dung không trái pháp luật và đạo đức xã hội, hình thức của hợp đồng, giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng và các văn bản tín dụng khác phù hợp với quy định của pháp luật nên có giá trị pháp lý và có hiệu lực thi hành đối với các bên.

Đối với số tiền nợ gốc:

- Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 09/12/2021.

Quá trình thực hiện hợp đồng, chị T2 đã sử dụng số tiền 50.000.000 đồng, đã trả cho Ngân hàng được số tiền nợ gốc là 755.130 đồng, sau đó chị T2 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, khoản vay bị chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 26/01/2024. Như vậy, chị T2 còn nợ gốc tiền nợ gốc là 49.244.870 đồng

- Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 30/08/2022

Quá trình thực hiện hợp đồng, chị T2 đã sử dụng số tiền 109.900.000 đồng, đã trả được số tiền nợ gốc là 26.677.496 đồng, nợ lãi trong hạn là 31.080.905 đồng, lãi quá hạn là 2.203.157 đồng, sau đó chị T2 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, khoản vay bị chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 15/12/2023. Như vậy, chị T2 còn nợ gốc tiền nợ gốc là 83.222.629 đồng

Đối với khoản tiền lãi:

- Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 09/12/2021.

Theo quy định tại Điều 3 Phần B của Bản điều kiện giao dịch chung về vay từng lần và/hoặc vay theo hạn mức về lãi suất, phí và các chi phí khác quy định: “2. Lãi xuất cho vay áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn (lãi suất quá hạn): Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Mức lãi suất này được áp dụng kể từ thời điểm khoản nợ gốc của khách hàng bị chuyển quá hạn đến khi khách hàng thanh toán hết nợ gốc quá hạn. 3. Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả: Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.”

Ngân hàng xác định chị T2 còn nợ số tiền lãi là 56.394.470 đồng và lãi chậm trả là 8.992.214 đồng như bản tự khai và bảng kê tính lãi là có cơ sở.

- Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 30/08/2022.

Theo khoản 3 Điều 3 của Điều kiện giao dịch chung về vay từng lần không tài sản đảm bảo dành cho khách hàng cá nhân của VPBank quy định về lãi suất, phí và các chi phí khác: 3. Lãi suất cho vay áp dụng đối vớí dư nợ gốc quá hạn (lãi suất quá hạn): Bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.

Ngân hàng xác định tổng số tiền lãi trong hạn chị T2 phải trả là 35.188.818 đồng, chị T2 đã trả được 31.080.905 đồng. Chị T2 còn phải trả là 4.107.913 đồng. Tổng số tiền lãi quá hạn chị T2 phải trả là 57.532.837 đồng, chị T2 đã trả 2.203.157. Chị T2 còn phải trả 55.329.680 đồng và như bản tự khai và bảng kê tính lãi là có cơ sở.

Do đó Ngân hàng yêu cầu chị T2 phải trả tổng số tiền nợ gốc và lãi theo 02 Hợp đồng tín dụng nêu trên, tạm tính đến ngày 29/08/2025 gồm: Nợ gốc: 132.467.374 đồng; Nợ lãi trong hạn: 4.107.913 đồng; Nợ lãi quá hạn: 111.724.150 đồng; Lãi chậm trả lãi: 8.992.214 đồng. Tổng cộng: 257.291.651 đồng là có cơ sở chấp nhận. Buộc chị T2 phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền nợ trên ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Chị T2 còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng nêu trên, kể từ ngày 30/08/2025 cho đến khi trả hết khoản nợ cho Ngân hàng là có cơ sở và phù hợp với quy định tại Điều 90; 91; 95 và Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng.

Về án phí: Chị Đỗ Thị T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trả lại Ngân hàng TMCP V số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 203, Điều 220, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ các Điều 90; 91; 95 và Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng;

- Các Điều 119, 429, 463, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V.

Buộc chị Đỗ Thị T2 phải có trách nhiệm thanh toán trả cho Ngân hàng TMCP V theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 09/12/2021 và Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 30/08/2022, số tiền tạm tính đến ngày 29/08/2025, các khoản gồm: Nợ gốc: 132.467.374 đồng; Nợ lãi trong hạn: 4.107.913 đồng; Nợ lãi quá hạn: 111.724.150 đồng; Lãi chậm trả lãi: 8.992.214 đồng. Tổng cộng: 257.291.651 đồng (Hai trăm năm mươi bẩy triệu hai trăm chín mươi mốt nghìn sáu trăm năm mươi mốt đồng)

Khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của Ngân hàng TMCP V, chị Đỗ Thị T2 còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng đã ký kết kể từ ngày 30/08/2025 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

2. Về án phí:

Chị Đỗ Thị T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 12.864.582 đồng (Mười hai triệu tám trăm sáu mươi bốn nghìn năm trăm tám mươi hai đồng)

Hoàn trả Ngân hàng TMCP V 5.200.000 đồng (Năm triệu hai trăm nghìn đồng) số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0058494 ngày 16/05/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 11 - Hà Nội.

Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ