vanban.org

Bản án 170/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng S (Sacombank):

Buộc ông Châu Văn M phải thanh toán cho Ngân hàng S tổng số tiền tính đến ngày 30/7/2025 là 46.271.042 đồng (bốn mươi sáu triệu hai trăm bảy mươi mốt nghìn không trăm bốn mươi hai đồng), gồm nợ gốc là 19.001.138 đồng, lãi quá hạn là 27.269.904 đồng, theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng S tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng S (Sacombank):
  • Căn cứ chính? Điều 10 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 12 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 170/2025/DS-ST
Ngày: 30 - 7 - 2025
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Huy.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Huỳnh Thị Phương Trinh.

2. Ông Dương Văn Quí.

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Hoàng Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Tâm – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 830/2024/TLST-DS ngày 21/10/2024, về việc Tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 228/2025/QĐXXST-DS ngày 15/5/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 200/2025/QĐST-DS ngày 13/6/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2025/QĐST-DS ngày 10/7/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng S; địa chỉ trụ sở: 266 – 268 Đường N, phường X (phường V, Quận 3 cũ), Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Công ty SBA; địa chỉ: 278 đường N, phường X, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lã Ngọc M, sinh năm 1970; địa chỉ: Lầu 5 - Số 278 đường N, phường X, Thành phố Hồ Chí Minh – theo Giấy ủy quyền số 2505/2024/UQ-TGĐ ngày 22/4/2024. (xin vắng mặt)

Bị đơn: Ông Châu Văn M, sinh năm 1979; địa chỉ: 58/6D ấp A, xã B (ấp M, xã T, huyện Hóc Môn cũ), Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/5/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án,nguyên đơn Ngân hàng S (Sacombank), có người đại diện hợp pháp là ông Lã Ngọc M trình bày: Ngày 30/7/2019, ông Châu Văn M ký với Ngân hàng hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng), với hạn mức sử dụng là 16.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông M đã kích hoạt, thực hiện các giao dịch tổng số tiền là 222.373.217 đồng, đã thanh toán 216.540.546 đồng, thứ tự thanh toán theo Điều 20, chi tiết các giao dịch theo bảng tóm tắt sao kê đính kèm. Ông M nhiều lần vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng, Ngân hàng đã làm việc, nhắc nhở nhưng ông M không có thiện chí trả nợ nên ngày 23/7/2022, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ, chuyển toàn bộ dư nợ gốc 19.001.138 đồng sang nợ quá hạn theo Điều 23 nhưng đến nay ông M vẫn không thanh toán nợ cho Ngân hàng. Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông M phải thanh toán ngay một lần tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 19/02/2025 là 42.294.181 đồng, gồm nợ gốc là 19.001.138 đồng và lãi quá hạn là 23.293.043 đồng; ông M phải tiếp tục thanh toán tiền lãi, phí theo hợp đồng từ ngày 20/02/2025 đến khi trả xong nợ.

Bị đơn là ông Châu Văn M đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án nhưng không có ý kiến phản hồi.

Tại phiên tòa:

Phía nguyên đơn gửi Bản tự khai kèm bảng Tóm tắt sao kê, yêu cầu bị đơn ông Châu Văn M phải thanh toán ngay tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 30/7/2025 là 46.271.042 đồng, gồm nợ gốc là 19.001.138 đồng và lãi quá hạn là 27.269.904 đồng; yêu cầu bị đơn phải tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh theo hợp đồng kể từ ngày 31/7/2025 cho đến khi thanh toán xong nợ.

Phát biểu ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, Thành phố Hồ Chí Minh: Về thủ tục tố tụng: Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng, người tham gia tố tụng đã được bảo đảm thực hiện đúng và đầy đủ quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông Châu Văn M không tham gia giải quyết vụ án, không có ý kiến phản hồi, không cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, mặc dù đã được đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án. Về việc giải quyết vụ án: căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, bảng Tóm tắt sao kê do Ngân hàng phát hành, có căn cứ xác định ông M đã giao kết và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng nhưng thường xuyên vi phạm nghĩa vụ thanh toán; kể từ ngày 23/3/2022 ông M không tiếp tục thanh toán nên ngày 23/7/2022 ngân hàng chuyển khoản nợ còn lại sang nợ gốc quá hạn, và tính đến ngày 30/7/2025 ông M còn nợ tổng số tiền 46.271.042 đồng, gồm 19.001.138 đồng tiền nợ gốc và 27.269.904 đồng tiền lãi quá hạn là đúng thỏa thuận đã ký, đúng quy định của pháp luật. Căn cứ Điều 466 Bộ luật dân sự 2015, Luật các tổ chức tín dụng, toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Tổ chức tín dụng khởi kiện yêu cầu khách hàng vay là cá nhân thanh toán khoản vay có mục đích tiêu dùng cá nhân theo hợp đồng đã ký. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại xã Bà Điểm (xã Trung Chánh, huyện Hóc Môn cũ), Thành phố Hồ Chí Minh. Vì vậy, đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 8, Thành phố Hồ Chí Minh, theo quy định tại Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự.

Sự vắng mặt của đương sự: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, trong đó có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa kèm Giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng, quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Đối với yêu cầu thanh toán nợ gốc, số tiền 19.001.138 đồng:

Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 22/7/2019, kèm bảng Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng S (Đơn vị phát hành thẻ), xác định ông M ký kết và sử dụng thẻ tín dụng số 472075-1579 từ ngày 22/7/2019 với hạn mức tín dụng là 16.000.000 đồng.

Theo trình bày của Ngân hàng kèm bảng Tóm tắt sao kê, kể từ ngày kích hoạt thẻ tín dụng đến ngày 22/3/2022, ông M đã thực hiện nhiều giao dịch với tổng số tiền là 222.373.217 đồng, đã thanh toán số tiền 216.540.546 đồng, còn nợ số tiền 19.001.138 đồng. Việc ông M không tiếp tục thanh toán kể từ ngày 23/3/2022 là vi phạm nghĩa vụ trả tiền, vi phạm hợp đồng đã ký.

Ngày 23/7/2022, Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ tín dụng của ông M, chuyển toàn bộ khoản nợ còn lại sang nợ gốc quá hạn do ông M vi phạm nghĩa vụ thanh toán là phù hợp với thỏa thuận đã ký, phù hợp quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự 2015, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán khoản nợ gốc này là có căn cứ chấp nhận.

Về yêu cầu thanh toán tiền lãi quá hạn tính đến ngày 30/7/2025, số tiền 27.269.904 đồng:

Theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 22/7/2019, kèm bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng S, mức lãi suất được áp dụng theo công bố của Ngân hàng cho vay, cụ thể: lãi suất trong hạn là 2.6%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn (3,9%). Thỏa thuận giữa hai bên là phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; các Điều 7, 8, 10 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Như nhận định tại mục [3.1], ông M vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên toàn bộ khoản nợ đã chuyển sang nợ quá hạn, và ông M phải chịu tiền lãi quá hạn trên số tiền nợ gốc 19.001.138 đồng tính từ ngày 23/7/2022.

Tại bảng Tóm tắt sao kê ngày 30/7/2025, nguyên đơn yêu cầu ông M phải thanh toán tiền lãi quá hạn tính đến ngày 30/7/2025, số tiền 27.269.904 đồng là phù hợp với mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng, cũng như các quy định viện dẫn nêu trên. Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu ông M phải thanh toán khoản tiền lãi này là có căn cứ chấp nhận; ông M còn phải tiếp tục thanh toán tiền lãi quá hạn phát sinh theo hợp đồng từ ngày 31/7/2025 đến khi trả xong nợ.

[4] Khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định:”Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ”. Ông M không có ý kiến phản hồi, không cung cấp tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nên phải tự chịu trách nhiệm và Hội đồng xét xử căn cứ vào những chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ để giải quyết vụ án.

Nội dung phát biểu tại phiên tòa của đại diện Viện kiểm sát nhân dân về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu tiền án phí có giá ngạch tương ứng với khoản tiền phải thanh toán cho nguyên đơn, theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nguyên đơn được trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 92; khoản 1 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 147; Điều 266; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 280, 463, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Áp dụng các Điều 7, 8, 10, khoản 1 Điều 12 và Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng S (Sacombank):

Buộc ông Châu Văn M phải thanh toán cho Ngân hàng S tổng số tiền tính đến ngày 30/7/2025 là 46.271.042 đồng (bốn mươi sáu triệu hai trăm bảy mươi mốt nghìn không trăm bốn mươi hai đồng), gồm nợ gốc là 19.001.138 đồng, lãi quá hạn là 27.269.904 đồng, theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 22/7/2019, bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng S, thẻ tín dụng số 472075-1579.

Kể từ ngày 31/7/2025 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất sẽ được tiếp tục điều chỉnh tại giai đoạn thi hành án.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Châu Văn M phải chịu số tiền 2.313.552 đồng (hai triệu ba trăm mười ba nghìn năm trăm năm mươi hai đồng), thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Trả lại cho Ngân hàng S số tiền 876.774 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0047088 ngày 17/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hóc Môn.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ