vanban.org

Bản án 170/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hồ Võ L, sinh ngày 03/6/2020 cho chị Hồ Thị Bích T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời anh Nguyễn Thanh X không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN LONG THÀNHĐộc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 170/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 26 - 9 -2024
V/v: “ Tranh chấp ly hôn ”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Liên.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Ngọc Đẹp

2. Bà Nguyễn Thị Thu Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thùy Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 121/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2024 về việc: “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 156/2024/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 181/2024/QĐST-HNGĐ ngày 06/9/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị Bích T, sinh năm 1997.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã C, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh X, sinh năm 2000.

Nơi đăng ký thường trú: Ấp E, xã P, huyện L, T. Đ.

Nơi sinh sống: Tổ E, Ấp F, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

(Chị T, anh X vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Hồ Thị Bích T trình bày :

Chị và anh Nguyễn Thanh X tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai vào ngày 15/4/2020. Sau khi kết hôn thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, tuy nhiên sau một thời gian dài chung sống anh chị bất đồng quan điểm sống, tình cảm không thể hàn gắn, anh X chơi game rất nhiều và không chịu làm ăn. Chị đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh X không thay đổi, anh chị đã ly thân được 02 năm nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ được nữa vì vậy chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Thanh X.

Về con chung: Có 01 con chung là cháu Nguyễn Hồ Võ L, sinh ngày 03/6/2020. Sau ly hôn chị đề nghị được trực tiếp nuôi cháu L. Không yêu cầu anh X phải cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung, về nợ chung: Không có.

Chị Hồ Thị Bích T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt ngày 12/4/2024.

- Bị đơn anh Nguyễn Thanh X đã được Tòa án tống đạt hợp lệ về thông báo thụ lý vụ án; được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần đến làm việc, tham giam phiên họp công khai chứng cứ, phiên hòa giải, phiên tòa nhưng anh X đều vắng mặt, không có lời khai của anh X.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên nguyên đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71, 72, 238 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, không có ý kiến phản hồi về các nội dung theo đơn khởi kiện, bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hồ Thị Bích T.

Về con chung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị Hồ Thị Bích T, giao cháu Nguyễn Hồ Võ L, sinh ngày 03/6/2020 cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Anh Nguyễn Thanh X tạm thời không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, về nợ chung : Các đương sự khai không có nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng :

- Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt nguyên đơn chị T. Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa nên căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn anh X.

- Quan hệ pháp luật: Chị Hồ Thị Bích T có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Thanh X. Căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xác định quan hệ là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”.

- Thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Thanh X là bị đơn trong vụ án hiện đang cư trú tại xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai nên Tòa án nhân dân huyện Long Thành giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị Bích T và anh Nguyễn Thanh X đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai theo giấy chứng nhận kết hôn số 35/2020 cấp ngày15/4/2020. Căn cứ Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015, hôn nhân giữa chị Hồ Thị Bích T và anh Nguyễn Thanh X là hôn nhân hợp pháp.

Chị T yêu cầu xin ly hôn anh X vì xác định tình cảm vợ chồng không còn, tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh X đã trầm trọng, xảy ra nhiều mâu thuẫn trong hôn nhân, anh chị đã ly thân 02 năm nay.

Bị đơn anh Nguyễn Thanh X đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần đến làm việc, tham gia phiên họp công khai chứng cứ, phiên hòa giải, phiên tòa nhưng anh X đều vắng mặt không có lý do, không có ý kiến phản hồi về các nội dung theo đơn khởi kiện của nguyên đơn. Chị T khai vợ chồng đã tự sống ly thân nhau được 02 năm nhưng không bàn bạc đoàn tụ được, nay chị kiên quyết xin được lý hôn. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị T và anh X đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt nên căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình Việt Nam năm 2014, xử cho chị Hồ Thị Bích T được ly hôn anh Nguyễn Thanh X.

Về con chung: Chị T và anh X có 01 con chung là cháu Nguyễn Hồ Võ L, sinh ngày 03/6/2020. Chị T yêu cầu trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu L. Anh X không có ý kiến phản hồi về việc yêu cầu nuôi dưỡng con chung. Thời gian qua chị T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu L, vì vậy, giao cháu Nguyễn Hồ Võ L cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật.

Chị T nuôi con không yêu cầu anh X cấp dưỡng nên không xét.

Tài sản chung và nợ chung: Chị T khai không nên không xét.

Về án phí: Chị Hồ Thị Bích T phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, 35, 147, 238, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Nghị quyết số 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử : 1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hồ Thị Bích T, xử cho chị T được ly hôn anh Nguyễn Thanh X.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hồ Võ L, sinh ngày 03/6/2020 cho chị Hồ Thị Bích T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Tạm thời anh Nguyễn Thanh X không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh X có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 84, 110, 118 Luật hôn nhân gia đình Việt Nam năm 2014. 3. Tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Hồ Thị Bích T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0015328 ngày 26/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành. Chị T đã nộp đủ án phí.

5. Chị Hồ Thị Bích T và anh Nguyễn Thanh X được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ