- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Xuân B - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Xuân B phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 170/2023/HSST Ngày: 09-8-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Định
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Bảo
Bà Vương Thị Minh Tân
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Kiên - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Vũ Ngọc Thư - Kiểm sát viên
Ngày 09 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 159/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 159/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Xuân B - sinh ngày 29 tháng 4 năm 1999 tại tỉnh Nam Định; nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Số A đường T, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: 036099003849; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn M và bà Trần Thị V; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20-5-2023, sau đó chuyển tạm giam đến ngày 23-6-2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại: Anh Trần Hoàng H, sinh năm 1994; trú tại: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang. (Vắng mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty cổ phần G.
Địa chỉ trụ sở: Tòa nhà VTV, số H P, phường M, quận N, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Hồng Q - Chức vụ: Giám đốc. (Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Xuân B không có công ăn việc làm ổn định nên nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác với thủ đoạn: Đặt mua điện thoại trên mạng Internet với hình thức thanh toán khi nhận hàng, sau đó chiếm đoạt điện thoại của người bán bằng cách đánh tráo thành điện thoại mô hình trả lại cho nhân viên giao hàng để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Để thực hiện ý định trên, khoảng đầu tháng 3/2023 Trần Xuân B mua 02 số sim điện thoại không chính chủ số 0925.453.004 và 0386.810.367. Sau đó Trần Xuân B lập một tài khoản Facebook có tên “Vũ Đ” với thông tin giả, tham gia vào các hội nhóm mua, bán điện thoại trên mạng xã hội Facebook.
Ngày 29-3-2023, B sử dụng tài khoản Facebook “Vũ Đ” tìm thấy tài khoản Facebook “Hiệu Apple” của anh Trần Hoàng H, sinh năm 1994, trú tại Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang đăng bán chiếc điện thoại Iphone 12 Promax, loại 256 GB, màu đen ghi đã qua sử dụng. Trần Xuân B nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại trên nên sử dụng số điện thoại 0925.453.004 gọi điện, nhắn tin với số điện thoại 0977.626.364 của anh Trần Hoàng H mua chiếc điện thoại với giá 12.032.000 đồng và nhận hàng bằng thông tin giả là Trần Việt D, địa chỉ khu E tầng T, phường C, thành phố N, số điện thoại 0925453004.
Ngày 02-4-2023, nhân viên giao hàng là anh Bùi Huy H1, sinh năm 1991, trú tại 4 T, phường N, thành phố N, tỉnh Nam định gọi điện cho Trần Xuân B thông báo đến giao hàng. Trần Xuân B lấy lý do bận để kéo dài thời gian và hẹn nhận hàng vào ngày 04-4-2023. Sau đó Trần Xuân B đặt mua một chiếc điện thoại mô hình Iphone 12 Promax giống chiếc điện thoại đã đặt mua của anh Trần Hoàng H. Tuy nhiên do mô hình điện thoại Iphone 12 Promax hết nên Trần Xuân B đặt mô hình điện thoại Iphone 14 Promax màu tím với giá 500.000 đồng, giao hàng hỏa tốc trong ngày.
Ngày 04-4-2023, Trần Xuân B sử dụng điện thoại số 0386810367 gọi điện cho anh Bùi Huy H1 hẹn lấy hàng rồi để chiếc mô hình điện thoại vào túi quần sau bên trái và điều khiển xe máy nhãn hiệu Wave màu đỏ, BKS 18H2-9474 đến khu 5 tầng T, phường C, thành phố N. Tại đây, Trần Xuân B yêu cầu kiểm tra hàng. Anh Bùi Huy H1 đồng ý, đồng thời lấy điện thoại của mình quay lại quá trình Trần Xuân B kiểm tra hàng. Trần Xuân B thấy trong gói hàng là chiếc điện thoại Iphone 12 Promax màu đen 256 GB, ốc bên dưới có tem bảo hành của cửa hàng nên Trần Xuân B đề nghị bóc tem ra để kiểm tra ốc. Sau đó Trần Xuân B lấy lý do điện thoại xước nhiều rồi liên tục lau lên áo và đưa ra sau lưng lau. Lợi dụng lúc anh Bùi Hoàng H1 không để ý, Trần Xuân B bỏ chiếc điện thoại Iphone 12 Promax vào túi quần sau bên trái và đánh tráo bằng chiếc điện thoại mô hình. Sau đó Trần Xuân B gọi điện cho anh Trần Hoàng H thông báo điện thoại bị xước nhiều và đề nghị không nhận hàng. Anh Bùi Huy H1 gọi điện lại cho anh Trần Hoàng H thì anh Trần Hoàng H đồng ý nhận lại hàng. Sau khi lấy được chiếc điện thoại, Trần Xuân B bán cho một người sử dụng tài khoản Facebook “Quang Việt B1” với giá 10.900.000 đồng vào ngày 09-4-2023 tại ngõ I đường Đ, thành phố Hà Nội. Khi bán Trần Xuân B nói với người mua là điện thoại của Trần Xuân B.
Ngày 11-4-2023, Công ty Cổ phần G nhận được thông tin khiếu nại của shop “Hiệu Apple” và đã bồi thường cho anh Trần Hoàng Hiệu s tiền 11.960.000 đồng. Ngày 19-5-2023 đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần G đã làm đơn trình báo đến Công an phường C, thành phố N đồng thời giao nộp lại chiếc điện thoại mô hình Iphone 14 Promax.
Ngày 20-5-2023 Trần Xuân B lên trụ sở Công an thành phố N để đầu thú. Tại cơ quan điều tra, Trần Xuân B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Bản kết luận định giá tài sản số 22/KL-HĐĐGTS ngày 25-5-2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu đen ghi 256 GB, số Imei 356717116045336, đã qua sử dụng, chưa thu hồi được có giá trị là 12.500.000 đồng.
Quá trình điều tra, anh Bùi Huy H1 cùng với người đại diện của Công ty G đã giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra 01 đoạn video ghi lại quá trình tráo đổi chiếc điện thoại. Bản kết luận giám định số 869/KL-KTHS ngày 23-6-2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Không phát hiện thấy dấu vết bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong toàn bộ mẫu cần giám định (Ký hiệu A).
Về vấn đề dân sự: Ngày 27-5-2023, Trần Xuân B đã tác động để chị Trần Thị N, sinh năm 1996, trú tại A T, phường L, thành phố N (chị gái của Trần Xuân B) bồi thường số tiền 12.032.000 đồng cho Công ty cổ phần G. Như vậy, Anh Trần Hoàng H và Công ty cổ phần G đã nhận đủ tiền bồi thường và không có yêu cầu gì khác.
Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu đen ghi 256 GB, số Imei 356717116045336, đã qua sử dụng B bán cho người không rõ tên tuổi địa chỉ; 02 số sim điện thoại 0925.453.004 và 0386.810.367 Trần Xuân B sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, Trần Xuân B đã ném đi không nhớ địa điểm cụ thể nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N không thu hồi được.
Bản cáo trạng số 179/CT-VKS-TPNĐ ngày 26-7-2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Trần Xuân B về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Trần Xuân B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tiến hành trình chiếu các tài liệu có trong hồ sơ, bị cáo Trần Xuân B đã được xem các tài liệu được trình chiếu và không có ý kiến gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Trần Xuân B tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” . Do đó, Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Xuân B theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Trần Xuân B phạm “ Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Xuân B từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo. Thời gian thử thách gấp đôi tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy đối với 01 mô hình điện thoại Iphone 14 Promax, màu tím được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu số NS2 2122990.
- Buộc bị cáo Trần Xuân B phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Bị cáo Trần Xuân B nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Trần Xuân B và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Về tội danh:
Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Xuân B trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như: Sơ đồ hiện trường; Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 22/KL-HĐĐGTS ngày 25-5-2023; Kết luận giám định số 869/KL-KTHS ngày 23-6-2023 của Phòng K Công an tỉnh N; lời khai của những người liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở khẳng định: Ngày 04-4-2023 tại khu E tầng T, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định, Trần Xuân B đã dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu đen ghi 256Gb, số Imei: 356717116045336 (đã cũ) có trị giá 12.500.000 đồng (mười hai triệu năm trăm nghìn đồng) của anh Trần Hoàng H.
Hành vi của bị cáo Trần Xuân B là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự an toàn xã hội; bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo đã lên kế hoạch mua 02 số sim điện thoại không chính chủ, lập tài khoản Facebook có tên "Vũ Đ" với thông tin giả để tham gia vào các hội nhóm mua bán điện thoại trên mạng xã hội Facebook; sử dụng tên giả và địa chỉ giả khi nhận hàng, mua điện thoại mô hình giả nhằm đánh tráo chiếc điện thoại của anh Trần Hoàng H. Như vậy, với những hành vi, thủ đoạn nêu trên, bị cáo Trần Xuân B đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Trần Xuân B đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tự nguyện ra đầu thú; bị cáo đã tác động để gia đình bồi thường thiệt hại mà bị cáo đã gây ra nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Xuân B không bị áp dụng tình tiết tăng nặng.
Về hình phạt:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, thể hiện ý thức coi thường pháp luật nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn với mức hình phạt tương xứng đối với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử chỉ xử phạt bị cáo ở mức thấp của khung hình phạt mà bị cáo bị truy tố, nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét thấy, bị cáo Trần Xuân B có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo tại địa phương, bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nên Hội đồng xét xử có thể cho bị cáo được miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự. Cùng với việc cho bị cáo được hưởng án treo, Hội đồng xét xử sẽ ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo và giao bị cáo cho chính quyền địa phương để giám sát, giáo dục theo quy định của pháp luật.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Trần Xuân B cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Trần Xuân B phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Công ty Cổ phần G đã bồi thường cho anh Trần Hoàng Hiệu s tiền 11.960.000 đồng. Bị cáo Trần Xuân B đã tác động để gia đình bồi thường cho Công ty cổ phần G số tiền 12.032.000 đồng. Anh Trần Hoàng H và Công ty cổ phần G đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu gì khác. Như vậy, phần dân sự trong vụ án đã được giải quyết xong nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về xử lý vật chứng:
Đối với chiếc mô hình điện thoại Iphone 14 Promax màu tím được niêm phong ký hiệu NS2 2122990 là công cụ, phương tiện để bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo Trần Xuân B bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Xuân B phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Xuân B 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm tù kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 09-8-2023.
Giao bị cáo Trần Xuân B cho Ủy ban nhân dân phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Trần Xuân B cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Trần Xuân B phải chấp hành hình phạt 01 (một) năm tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Xử lý vật chứng:
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy đối với 01 mô hình điện thoại Iphone 14 Promax màu tím được niêm phong ký hiệu NS2 2122990.
(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 01-8-2023)
3. Án phí:
- Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Bị cáo Trần Xuân B phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo:
Bị cáo Trần Xuân B được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành dân sự./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - Người liên quan; - TAND. tỉnh Nam Định; - VKSND-TP. Nam Định (02 bản); - Công an TP. Nam Định; - Chi cục THADS-TP. Nam Định; - UBND P. Lộc Vượng, TP. Nam Định; - Lưu hồ sơ vụ án VP. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM HỘI THẨM NHÂN DÂN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thu Định THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |