vanban.org

Bản án 170/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Phạm Thị P.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị P được ly hôn với anh Nguyễn Minh T. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Gia H, sinh ngày 18/3/2012 và Nguyễn Kỳ D, sinh ngày 16/02/2015 cho chị Phạm Thị P tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Minh T được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị P với Nguyễn Minh T"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Phạm Thị P.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:170/2023/HNGĐ-ST
Ngày:12-4-2023.
V/v tranh chấp ly hôn,
nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Kim Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Văn Tư

2. Bà Nguyễn Thị Phương Dung

- Thư ký phiên tòa: Bà Bế Thị Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên toà: Ông Võ Hồng Nhân– Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:680/2022/TLST-HN ngày 07 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:30/2023/QĐXX-ST ngày 20 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phạm Thị P, sinh năm 1985 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp H, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Bị đơn: Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1979 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp H, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Phạm Thị P trình bày:

Chị với anh Nguyễn Minh T sống chung năm 2011, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 14/5/2011. Quá trình sống chung phát sinh mâu thuẫn trong vấn đề tình cảm, vợ chồng không còn sự tin tưởng và đã ly thân khoảng một năm nay. Chị nhận thấy giữa chị và anh T đã không còn tình cảm vợ chồng nên chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Minh T.

Về con chung: Chị và anh Nguyễn Minh T có 02 con chung tên Nguyễn Gia H, sinh ngày 18/3/2012 và Nguyễn Kỳ D, sinh ngày 16/02/2015, hiện đang sống chung với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu tiếp tục nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn anh Nguyễn Minh T: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án nêu rõ yêu cầu của nguyên đơn; thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đồng thời, triệu tập hợp lệ anh Nguyễn Minh T nhiều lần nhưng anh T vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến, không tham gia hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.

* Tại phiên tòa:

Nguyên đơn chị Phạm Thị P vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

Bị đơn anh Nguyễn Minh T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

Phát biểu của kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị Phạm Thị P được ly hôn với anh Nguyễn Minh T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Phạm Thị P yêu cầu ly hôn và nuôi con khi ly hôn với anh Nguyễn Minh T có nơi cư trú tại xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Xét nguyên đơn chị Phạm Thị P vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin vắng mặt; bị đơn anh Nguyễn Minh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị P và anh Nguyễn Minh T sống chung có đăng ký kết hôn năm 2011, được pháp luật công nhận là vợ chồng. Vợ chồng anh chị phát sinh mâu thuẫn, Tòa án đã tiến hành xác minh mâu thuẫn gia đình giữa Chị P, anh T, tuy không xác minh được mâu thuẫn cụ thể giữa vợ chồng nhưng thực tế Chị P, anh T đã không còn sống chung khoảng một năm nay, mỗi người có một cuộc sống riêng, không còn quan tâm gì đến cuộc sống của nhau. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tổ chức hòa giải đoàn tụ nhưng anh T không đến tham dự hòa giải. Điều đó chứng tỏ tình cảm vợ chồng giữa anh, chị không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị P.

Về con chung: Chị Phạm Thị P và anh Nguyễn Minh T có 02 con chung tên Nguyễn Gia H, sinh ngày 18/3/2012 và Nguyễn Kỳ D, sinh ngày 16/02/2015. Xét thấy cháu Hân, cháu Duyên chưa đủ 18 tuổi nên cần có người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Qua xác minh hiện tại các cháu đang sống chung với Chị P đã ổn định, quá trình giải quyết vụ án anh T cũng không có ý kiến phản đối về yêu cầu nuôi con của Chị P. Do vậy, căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị P về việc giao con chung cho Chị P tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Minh T được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được ngăn cản.

Về cấp dưỡng: Chị Phạm Thị P chưa yêu cầu cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Các bên đương sự không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Chị Phạm Thị P phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa là đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị P và anh Nguyễn Minh T có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Phạm Thị P.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị P được ly hôn với anh Nguyễn Minh T.

2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Gia H, sinh ngày 18/3/2012 và Nguyễn Kỳ D, sinh ngày 16/02/2015 cho chị Phạm Thị P tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Minh T được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được ngăn cản.

3. Về cấp dưỡng: Không xem xét.

4. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét

5. Về án phí: Chị Phạm Thị P phải chịu 300.000đồng án phí sơ thẩm được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 20963 ngày 30/9/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Tiền Giang.

6. Về quyền kháng cáo:

Chị Phạm Thị P có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Anh Nguyễn Minh T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ