- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trần Quốc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 170/2022/HSST Ngày: 27/7/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huế.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Vỵ và bà Trần Thị Bích Thủy.
-Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thanh Huế- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Dương Phước An- Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (60 Nguyễn Huệ, Huế) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 155/2022/HSST ngày 22 tháng 6 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 157/2022/QĐXXST-HS ngày 13/7/2022, đối với bị cáo:
Nguyễn Trần Quốc T, tên gọi khác: Cu Vị; sinh ngày 12/01/1998, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: 250 đường L, phường H, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Thợ sắt; trình độ văn hoá: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Đăng V, sinh năm 1956; con bà: Trần Thị Mỹ L, sinh năm 1963; vợ con: Chưa có.
Quá trình nhân thân: Nhỏ ở với gia đình, học đến lớp 12/12 thì nghỉ học, ở nhà phụ giúp gia đình. Học và làm nghề thợ sắt cho đến ngày phạm tội.
Tiền án: Không.
Tiền sự: 01 tiền sự. Ngày 21/5/2021, bị Công an xã Phong Sơn, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, theo quyết định xử phạt số 003652 ngày 21/5/2021, nộp phạt ngày 13/7/2021.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05/4/2022 cho đến nay;
Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Bị hại:
1. Bà Trần Thị Xuân L, sinh năm 1964. Địa chỉ: An Bình, phường H, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
2. Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1987. Địa chỉ: 57/17 đường N, phường H, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Anh Lê Đức M, sinh năm 2000. Địa chỉ: 248 đường L, phường H, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
2. Ông Nguyễn Đăng V, sinh năm 1959. Địa chỉ: 248 đường L, phường H, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 14/3/2022, Nguyễn Trần Quốc T ngồi uống bia cùng Lê Đức M tại số nhà 248 đường L, phường Hương Long, thành phố Huế. Khi uống gần hết bia, T rủ M đi lấy trộm bánh kẹo ở chợ Thông thì M đồng ý. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, T và M đi bộ về hướng chợ Thông, khi đi ngang nhà của T tại địa chỉ 250 đường L thì Trung bảo M đứng chờ trước cổng còn T đi vào nhà lấy 01 cái cưa sắt, sau đó cả hai đi đến khu vực chợ Thông để lấy trộm. Tại đây, M đứng ngoài để cảnh giới còn T đi đến gian hàng của bà Trần Thị Xuân L, dùng cưa phá ổ khóa ở thùng hàng thứ nhất nhưng không phá được. T tiếp tục đến thùng hàng thứ 2 dùng tay giật mạnh làm bật mở nắp thùng ra và lấy trộm 04 kg thạch dừa Tropical, 03 bộ đồ chơi trẻ em, 01 xấp vải cùng 24 gói bánh các loại trong đó gồm: 01 gói bánh Phong Lan hiệu Kinh đô; 09 gói bánh sâm banh; 06 gói bánh quy kem; 04 gói bánh đũa và 04 gói thạch lai lai. Trung bỏ tài sản trộm được vào 01 túi ni lông và đi ra giao lại cho M. Cả hai tiếp tục đi bộ đến gian hàng bán trái cây của chị Nguyễn Thị Thu H, thấy trong gian hàng có nhiều dừa nên Trung lấy trộm 04 chùm dừa với 16 trái dừa xiêm và xách dừa về nhà minh cất giấu. Còn M cũng xách 01 túi hàng mà T trộm được về cất giấu tại nhà mình, Đến sáng hôm sau, khi bà L và chị H đến mở cửa hàng để bán thì phát hiện mất tài sản nên báo cơ quan công an giải quyết theo quy định của pháp luật.
Vật chứng thu giữ: 01 cái cưa dài 31cm, rộng 02cm, màu nâu, trên bề mặt bị gỉ; 02 ổ khóa, trong đó 01 ổ khóa có dấu vết bị cưa nhưng chưa đứt; 01 ổ khóa có gắn 01 cái khuy vòng qua càng khóa; 04 kg thạch dừa Tropical, 03 bộ đồ chơi trẻ em xuất xứ Trung Quốc, 01 xấp vải hoa khổ 1,5mx3m; 01 gói bánh Phong lan hiệu Kinh đô; 09 gói bánh sâm banh; 06 gói bánh quy kem; 04 gói bánh đũa và 04 gói thạch lai lai; 16 trái dừa xiêm.
Kết luận định giá tài sản số 51/KL-HĐĐGTS ngày 23/3/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Huế xác định: 04 kg thạch dừa Tropical giá 180.000 đồng, 03 bộ đồ chơi trẻ em xuất xứ Trung Quốc giá 100.000 đồng, 01 xấp vải hoa khổ 1,5mx3m giá 100.000 đồng; 01 gói bánh Phong Lan hiệu Kinh đô giá 40.000 đồng; 09 gói bánh sâm banh giá 80.000 đồng; 06 gói bánh quy kem và 04 gói bánh đũa giá 60.000 đồng và 04 gói thạch lai lai giá 72.000 đồng; 16 trái dừa xiêm giá 240.000 đồng. Tổng cộng 08 khoản tài sản bị chiếm đoạt có giá trị 872.000 đồng.
Về xử lý vật chứng:
- Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà Trần Thị Xuân L: 04 kg thạch dừa Tropical, 03 bộ đồ chơi trẻ em xuất xứ Trung Quốc, 01 xấp vải hoa khổ 1,5mx3m; 01 gói bánh Phong Lan hiệu Kinh đô; 09 gói bánh sâm banh; 06 gói bánh quy kem; 04 gói bánh đũa và 04 gói thạch lai lai; trả lại cho chị Nguyễn Thị Thu H 16 trái dừa xiêm.
Tiếp tục tạm giữ 01 cái cưa dài 31cm, rộng 02cm, màu nâu, trên bề mặt bị gỉ; 02 ổ khóa, trong đó 01 ổ khóa có dấu vết bị cưa nhưng chưa đứt; 01 ổ khóa có gắn 01 cái khuy vòng qua càng khóa là vật chứng của vụ án để xử lý theo quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là bà Trần Thị Xuân L và chị Nguyễn Thị Thu H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường về mặt dân sự.
Tại cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Trần Quốc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Bản cáo trạng số 173/CT-VKS ngày 21/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Trần Quốc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trần Quốc T từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Đối với Lê Đức M, tại thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản về nhân thân chưa có tiền án, tiền sự gì về các tội chiếm đoạt tài sản, không phạm vào các điểm từ a đến đ khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự nên hành vi của M không đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản. Cơ quan Công an thành phố Huế đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lê Đức M theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Căn cứ điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ theo thủ tục chung.
Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Huế, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Tại phiên toà hôm nay, bị cáo T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để kết luận: Vào lúc 22 giờ ngày 14/3/2022, tại chợ Thông, địa chỉ 252 đường L, phường H, thành phố Huế, Nguyễn Trần Quốc T và Lê Minh Đ đã có hành vi trộm 04 kg thạch dừa Tropical, 03 bộ đồ chơi trẻ em xuất xứ Trung Quốc, 01 xấp vải hoa khổ 1,5mx3m; 01 gói bánh Phong Lan hiệu Kinh đô; 09 gói bánh sâm banh; 06 gói bánh quy kem; 04 gói bánh đũa và 04 gói thạch lai lai của bà Trần Thị Xuân L và 16 trái dừa xiêm của chị Nguyễn Thị Thu H, tổng giá trị chiếm đoạt là 872.000 đồng. Bị cáo đã bị xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản, thuộc trường hợp không được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, nay lại tiếp tục trộm cắp tài sản nên đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Trần Quốc T là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h, i, s khoản 1 điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hình phạt:
Hành vi chiếm đoạt tài sản của bị cáo xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, đồng thời làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Tuy nhiên, khi phạm tội bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, nên không cần thiết áp dụng hình phạt tù mà cần áp dụng Điều 36 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo bằng hình thức cải tạo không giam giữ, giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú và gia đình của bị cáo quản lý giáo dục cũng đủ tác dụng răn đe phòng ngừa. Xét bị cáo hiện tại có hoàn cảnh khó khăn, làm thuê kiếm sống, không có thu nhập ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 04 kg thạch dừa Tropical, 03 bộ đồ chơi trẻ em xuất xứ Trung Quốc, 01 xấp vải hoa khổ 1,5mx3m; 01 gói bánh Phong lan hiệu Kinh đô; 09 gói bánh sâm banh; 06 gói bánh quy kem; 04 gói bánh đũa và 04 gói thạch lai lai; 16 trái dừa xiêm, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho bị hại là đúng pháp luật, tại phiên tòa không có ai có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 cái cưa dài 31cm, rộng 02cm, màu nâu, trên bề mặt bị gỉ, thuộc sở hữu của ông Nguyễn Đăng Vị; 02 ổ khóa, trong đó 01 ổ khóa có dấu vết bị cưa nhưng chưa đứt; 01 ổ khóa có gắn 01 cái khuy vòng qua càng khóa, Cơ quan điều tra Công an thành phố Huế đã chuyển giao cho Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Huế, là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với Lê Đức M, tại thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản về nhân thân chưa có tiền án, tiền sự gì về các tội chiếm đoạt tài sản, không phạm vào các điểm từ a đến đ khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự nên hành vi của Minh không đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản. Cơ quan Công an thành phố Huế đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng đối với Lê Đức Minh là đúng pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại là bà Trần Thị Xuân L và chị Nguyễn Thị Thu H đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; Điểm h, i, s Khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trần Quốc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Nguyễn Trần Quốc T 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Nguyễn Trần Quốc T cho Ủy ban nhân dân phường Hương Long, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành án hình sự.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Trần Quốc T.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên bố:
Tịch thu tiêu hủy: 01 cái cưa dài 31cm, rộng 02cm; 02 ổ khóa, trong đó 01 ổ khóa có dấu vết bị cưa nhưng chưa đứt; 01 ổ khóa có gắn 01 cái khuy vòng qua càng khóa.
(Vật chứng trên có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/6/2022 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Nguyễn Trần Quốc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh TTHuế; -Sở Tư pháp tỉnh TTHuế; -Phòng PV06 Công an tỉnh TTHuế; -Công an thành phố Huế; -VKSND thành phố Huế; -THA HS, THA DS; - Bị cáo; - Bị hại, người có QLNVLQ; -Lưu. Tóm lại, tình tiết "Phạm tội nhiều lần" bao gồm năm nội dung sau: 1. Phạm tội nhiều lần là người phạm tội đã thực hiện từ hai hành vi phạm tội trở lên, tác động đến cùng một đối tượng hoặc nhiều đối tượng khác nhau 2. Nếu tách ra từng hành vi phạm tội riêng lẽ thì mỗi hành vi ấy đã đủ các yếu tố cấu thành một tội phạm độc lập. 3. Tất cả các hành vi phạm tội đó đều được quy định tại một điều luật cụ thể trong phần riêng BLHS, có thể cùng một khoản, có thể phạm tội ở các khoản khác nhau của cùng một điều luật. 4. Các hành vi phạm tội đó chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa bị các cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật. 5. Nếu điều luật có quy định về giá trị tài sản hoặc thiệt hại về tài sản thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng giá trị tài sản của các lần phạm tội cộng lại. về tài sản cho chị Lê Thị Thuỷ theo quy định tại Điều 48 Bộ luật Hình sự và các Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015. khẩn khai báo, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn quy định tại điểm g, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Do vậy, cần xem xét xử phạt bị cáo một mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo, thấp hơn mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế đề xuất tại phiên tòa, cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo. | TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Huế Về phần trách nhiệm dân sự: Đề nghị buộc bị cáo Quang bồi thường thiệt hại Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét cho bị cáo có thái độ thành |