- Tranh chấp gì? án hình sự — "Chống người thi hành công vụ - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Đặng Quốc K phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 170/2021/HS-ST Ngày 27 - 12 - 2021. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuyên.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Chương và bà Nguyễn Thị Huê.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Hồng Liên - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 165/2021/TLST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 161/2021/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
Đặng Quốc K, sinh năm 1970 tại Hà Nam; nơi cư trú: Thôn T, xã TN, thị xã DT, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Huy N và bà Đặng Thị T (đều đã chết); có vợ là Đặng Thị L, sinh năm 1974; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 1995; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/10/2021 đến ngày 17/11/2021 được tại ngoại tại địa phương theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1/ Anh Nguyễn Tiến T, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn QN, xã TH, thành phố PL, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
2/ Ông Đặng Văn T, sinh năm 1953; địa chỉ: Số 3C, ngách 12, ngõ 406, đường AC, quận TH, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
3/ Chị Đặng Thị L, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn T, xã TN, thị xã DT, tỉnh Hà Nam; có mặt.
* Người làm chứng:
1/ Anh Nguyễn Đức K, sinh năm 1989; vắng mặt.
2/ Anh Phạm Văn V, sinh năm 1983; vắng mặt.
3/ Anh Nguyễn Tiến V, sinh năm 1985; vắng mặt.
4/ Bà Lương Thị H, sinh năm 1967; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 09/10/2021, Đặng Quốc K điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 29C-652.53 đi đến nhà ông Phạm Văn H để đón cháu nội là Đặng Đức Anh về chơi. Khi đến nơi, K đỗ xe ô tô trên đường ĐT 493 rồi đi bộ vào nhà ông H thì gặp chị Phạm Thị M (con dâu K) và cháu Đức Anh. K nói với chị M “Cho con nó về” rồi dắt Đức Anh ra ngoài cổng nhưng chị M không đồng ý và nói “Để chờ bố con về” đồng thời kéo cháu Đức Anh đi vào trong nhà. Một lúc sau ông H về nhà, K nói với ông H muốn đưa cháu Đức Anh về nhà nhưng ông H không đồng ý, hai bên xảy ra mâu thuẫn. K có chửi bới ông H thì ông H đẩy K ra ngoài, đóng cổng và gọi điện thoại trình báo Công an xã Tiên Hải về sự việc trên.
Nhận được tin báo của ông H, Công an xã Tiên Hải phân công anh Nguyễn Tiến T, anh Phạm Văn V và anh Nguyễn Tiến V mặc trang phục ngành Công an xuống nhà ông H nắm tình hình và giải quyết vụ việc. Khi xuống nhà ông H, anh V yêu cầu K điều khiển ô tô biển kiểm soát 29C-652.53 đỗ gọn vào lề đường để tiến hành làm việc. K điều khiển xe đỗ vào trong ngõ cách đó khoảng 20m, rồi tiếp tục chửi bới. Anh Nguyễn Tiến T yêu cầu K xuất trình giấy tờ xe, giấy tờ tùy thân và về trụ sở Công an xã để làm việc. K không chấp hành mà còn chửi bới, xúc phạm lực lượng Công an. Do xe ô tô của K vẫn còn cản trở giao thông, anh T tiếp tục yêu cầu K đỗ xe gọn vào để lấy lối đi lại. K lên xe ô tô biển kiểm soát 29C-652.53 nổ máy nhưng không đỗ gọn lại mà đi thẳng ra đường ĐT 493 để bỏ về nhà. Lúc này, anh T đang đứng phía trước, cách đầu xe khoảng 20m ra tín hiệu dừng xe, K không chấp hành, mà đạp ga điều khiển xe đi thẳng về phía trước đâm về phía anh T, buộc anh T phải nhảy lên đu bám vào tay gương chiếu hậu bên trái xe ô tô để tránh, anh T dùng tay đập vào cửa lái, yêu cầu K dừng xe lại nhưng K không dừng mà tiếp tục điều khiển xe đi hướng Phủ Lý - Duy Tiên thêm khoảng 400m, đến đoạn đường xấu đang sửa chữa thì xe bị sóc, anh T ngã khỏi xe rơi xuống đường. Thấy vậy, K tiếp tục điều khiển xe bỏ chạy thì bị lực lượng Công an thành phố Phủ Lý đuổi kịp và đưa về trụ sở làm việc.
* Vật chứng, tài sản thu giữ gồm: 01 chiếc áo sơ mi ngắn tay màu xanh và 01 chiếc quần dài màu xanh (là trang phục Công an nhân dân của anh Nguyễn Tiến T); 01 xe ô tô biển kiểm soát 29C-652.53; 01 giấy chứng nhận đăng kí xe ô tô mang tên Đặng Văn T; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự số BB20 0059495; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật số KD 3212951.
Ngày 31/10/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý ra Quyết định trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh Hà Nam giám định thương tích đối với anh Nguyễn Tiến T nhưng anh T kiên quyết từ chối giám định thương tích.
* Tại bản cáo trạng số 179/CT-VKS-PL ngày 25 tháng 11 năm 2021 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đã truy tố Đặng Quốc K về tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý trình bày luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như đã nêu trong bản cáo trạng không thay đổi, bổ sung gì thêm. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 50 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Quốc K từ 15 đến 18 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng, về tội “Chống người thi hành công vụ”. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
+ Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bô luật Tố tụng hình sự: Trả lại ông Đặng Văn T 01 xe ô tô biển kiểm soát 29C-652.53; 01 giấy chứng nhận đăng kí xe ô tô mang tên Đặng Văn T; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường.
- Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Đặng Thị L trình bày: Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo Đặng Quốc K đã tác động đến gia đình và chị đã bồi thường cho anh Nguyễn Tiến T để khắc phục hậu quả do bị cáo gây ra.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với người tham gia tố tụng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Nguyễn Tiến T, ông Đặng Văn T và những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa, nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định pháp luật.
Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa phù hợp với biên bản ghi nhận hiện trường, bản ảnh hiện trường, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ của vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 09 giờ ngày 09/10/2021, tại thôn QN, xã TH, thành phố PL, Đặng Quốc K có hành vi chửi bới gây mất trật tự khu dân cư. Khi lực lượng Công an xã Tiên Hải đến giải quyết vụ việc, K không chấp hành và đã điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 29C-652.53 bỏ chạy đâm thẳng về phía anh Nguyễn Tiến T - Công an xã Tiên Hải đang đứng trước đầu xe làm anh T phải nhảy lên bám vào gương chiếu hậu bên trái xe ô tô. K không dừng lại mà vẫn tiếp tục điều khiển xe bỏ chạy khoảng 400m thì anh T bị ngã văng ra đường. Hậu quả: anh Nguyễn Tiến T bị thương tích, không tiếp tục thực hiện được nhiệm vụ.
Hành vi nêu trên của bị cáo Đặng Quốc K đã phạm tội “Chống người thi hành công vụ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp pháp luật.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã tác động đến gia đình tự nguyện bồi thường số tiền 10.000.000 đồng để khắc phục hậu quả mà bị cáo đã gây ra. Vì vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt:
- Hình phạt chính: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính được pháp luật bảo vệ, gây cản trở người thi hành công vụ là các chiến sỹ Công an thực hiện nhiệm vụ mà còn đe doạ đến tính mạng, sức khoẻ, uy tín, danh dự của người đang thực thi nhiệm vụ. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn thành phố Phủ Lý, gây bức xúc trong nhân dân, làm xã hội mất ổn định. Vì vậy, việc xét xử nghiêm minh hành vi phạm tội này là cần thiết, với mức hình phạt tương xứng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện. Cân nhắc tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, do vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng cải tạo bị cáo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, điều này thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải.
- Hình phạt bổ sung: Xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động đến gia đình và vợ bị cáo đã bồi thường cho anh Nguyễn Tiến T số tiền 10.000.000 đồng để khắc phục hậu quả do bị cáo gây ra. Nay anh T không có yêu cầu đề nghị gì khác về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 chiếc áo sơ mi ngắn tay màu xanh; 01 chiếc quần dài màu xanh là trang phục của anh Nguyễn Tiến T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý đã trả lại tài sản trên cho anh T là phù hợp quy định của pháp luật.
- Đối với 01 xe ô tô biển kiểm soát 29C-652.53; 01 giấy chứng nhận đăng kí xe ô tô mang tên Đặng Văn T; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật là tài sản, giấy tờ hợp pháp của ông Đặng Văn T. Ông T cho K mượn xe để chở hàng nhưng không biết K sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy cần trả lại chiếc xe và giấy tờ trên cho ông Thiệp là phù hợp quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 330; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 47; Điều 50 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ các Điều 106, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ Luật Phí và Lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
[1] Tuyên bố bị cáo Đặng Quốc K phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
[2] Xử phạt bị cáo Đặng Quốc K 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Đặng Quốc K cho Ủy ban nhân dân xã TN, thị xã DT, tỉnh Hà Nam nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[3] Về xử lý vật chứng:
Trả lại ông Đặng Văn T 01 xe ô tô biển kiểm soát 29C-652.53; 01 giấy chứng nhận đăng kí xe ô tô mang tên Đặng Văn T; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 17/12/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý).
[4] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Đặng Quốc K phải nộp: 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - VKSND thành phố Phủ Lý; - Cơ quan CSĐT Công an TP Phủ Lý; - Cơ quan THAHS có thẩm quyền; - Chi cục Thi hành án dân sự TP Phủ Lý; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ đến vụ án; - Lưu hồ sơ. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Xuyên |