vanban.org

Bản án 170/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Quận 1, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 02/07/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng TMCP SG: Buộc bà Nguyễn Thị MH phải thanh toán Ngân hàng TMCP SG số tiền còn nợ theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tạm tính đến ngày 02/7/2021, cụ thể: Tiền gốc là 16.464.233 đồng, tiền lãi quá hạn là 9.160.912 đồng; tổng cộng là 25.625.145 đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Nguyen Thi Mai Huong"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 119 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 170/2021/DS-ST
Ngày: 02-7-2021.
V/v tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Hoàng Việt

2. Bà Nghiêm Thị Xuân Huê.

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Anh - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thúy Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 57/2021/DSST ngày 21 tháng 01 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2894/2021/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 5 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 3390/2021/QĐST-DS ngày 04 tháng 6 năm 2021, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP SG

Trụ sở: 266-268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường 8, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Nguyên Hà, sinh năm 1977 là đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền số 686/2020/UQ-CNPL ngày 09/12/2020).

Địa chỉ liên lạc: 485/8 Lê Văn Sỹ, Phường 2, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị MH, sinh năm 1967.

Địa chỉ: 4/10 Đ, phường B, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện hợp pháp của nguyên đơn - ông Nguyễn Nguyên Hà có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn - Ngân hàng TMCP SG (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) có ông Nguyễn Nguyên Hà là đại diện theo ủy quyền trình bày trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa:

Ngân hàng TMCP SG và bà Nguyễn Thị MH đã ký Hợp đồng tín dụng theo Đơn đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ, vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng ngày 17/7/2017 với nội dung: Ngân hàng cho bà H vay số tiền 15.000.000 đồng với số thẻ: 472074 - 4727; lãi suất vay 2.15%/tháng; mục đích vay: Tiêu dùng; lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 29.262.271 đồng.

Quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ tới nay bà Nguyễn Thị MH đã thanh toán cho ngân hàng số tiền là 25.940.050 đồng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà Nguyễn Thị MH không có thiện chí trả nợ. Bà Nguyễn Thị MH đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo điều 2 Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Do đó Ngân hàng TMCP SG khởi kiện yêu cầu:

Buộc bà Nguyễn Thị MH phải trả cho Ngân hàng TMCP SG tổng số tiền tạm tính đến ngày 02/7/2021 là 25.625.145 đồng (Trong đó, nợ gốc: 16.464.233 đồng, lãi quá hạn: 9.160.912 đồng). Bà Nguyễn Thị MH có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 02/7/2021 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

Tiền lãi tiếp tục phát sinh kể từ ngày 02/7/2021 theo mức lãi suất nợ quá hạn quy định trong hợp đồng đã giao kết tính trên dư nợ gốc cho đến khi bà H thanh toán xong toàn bộ các khoản nợ cho Ngân hàng.

Yêu cầu bà Nguyễn Thị MH thanh toán số tiền trên ngay khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn - bà Nguyễn Thị MH: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật: Tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án, các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Giấy triệu tập để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Giấy triệu tập tham gia xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho bà Nguyễn Thị MH. Tuy nhiên, tại tất cả các buổi làm việc theo giấy triệu tập bà H vắng mặt không lý do, không cung cấp văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và tài liệu, chứng cứ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, thực hiện thủ tục cấp tống đạt các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát… được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và không có kiến nghị gì về tố tụng.

Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, xét yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán số tiền nợ gốc: 16.464.233 đồng; Nợ lãi tạm tính đến ngày 02/7/2021: 9.160.912 đồng; tổng cộng: 25.625.145 đồng là có cơ sở chấp nhận. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP SG: Buộc bà Nguyễn Thị MH phải trả một lần cho Ngân hàng TMCP SG số tiền 25.625.145 đồng; trong đó nợ gốc: 16.464.233 đồng; Nợ lãi tạm tính đến ngày 02/7/2021: 9.160.912 đồng.

Tiền lãi sẽ tiếp tục phát sinh trên số dư nợ gốc kể từ ngày 02/7/2021 cho đến khi trả hết nợ gốc theo lãi suất nợ quá hạn thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ký kết giữa bà Nguyễn Thị MH và Ngân hàng; Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP SG cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Toà, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự và quan điểm giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

.Về pháp luật tố tụng:

1.1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Nguyên đơn Ngân hàng TMCP SG và bị đơn - bà Nguyễn Thị MH xác lập quan hệ tín dụng từ ngày 17 tháng 7 năm 2017. Do trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà H không thực hiện nghĩa vụ thanh toán đầy đủ cho nguyên đơn theo thỏa thuận nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu các bị đơn trả số tiền còn thiếu theo thỏa thuận của các bên. Bị đơn là công dân có quốc tịch Việt Nam, có địa chỉ tại Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

1.2. Về tư cách đương sự:

Nguyên đơn - Ngân hàng TMCP SG ủy quyền cho ông Nguyễn Nguyên Hà tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; ông Hà đã có đơn đề ngày 02/6/2021 xin vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm; bị đơn là bà Nguyễn Thị MH mặc dù Tòa án đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự để đảm bảo sự khách quan, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn nhưng bị đơn đã không đến Tòa tham gia tố tụng hoặc gửi văn bản trình bày, ý kiến, yêu cầu của mình đối với ý kiến, yêu cầu của nguyên đơn. Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, bị đơn tiếp tục vắng mặt lần thứ hai không lý do. Do vậy Hội đồng tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

1.3. Về chứng cứ:

Kèm theo đơn khởi kiện, nguyên đơn đã giao nộp các chứng cứ liên quan đến yêu cầu khởi kiện gồm: Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ký kết giữa bà Nguyễn Thị MH và Ngân hàng; Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP SG; Tóm tắt sao kê của bà Nguyễn Thị MH. Đây là các tài liệu bản sao từ các tài liệu đang lưu giữ trong hồ sơ tại trụ sở của nguyên đơn. Đại diện nguyên đơn cam kết chịu trách nhiệm trước pháp luật về sự xác thực của các tài liệu này. Trong quá trình chuẩn bị xét xử, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng, trong đó có Thông báo thụ lý vụ, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo quy định của pháp luật. Do vậy, những tài liệu, chứng cứ này có giá trị chứng minh về quyền, nghĩa vụ của các đương sự.

. Về pháp luật nội dung:

2.1. Về luật áp dụng:

Nguyên đơn - Ngân hàng TMCP SG và bị đơn - bà Nguyễn Thị MH xác lập quan hệ tín dụng từ ngày 17/7/2017 do vậy Tòa áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 để điều chỉnh, giải quyết tranh chấp.

2.2. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

- Về yêu cầu thanh toán nợ gốc:

Xét, căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ký kết giữa bà Nguyễn Thị MH và Ngân hàng là trên cơ sở tự nguyện, các bên tham gia ký kết đều có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, hợp đồng được xác lập bằng văn bản thể hiện cụ thể thỏa thuận của các bên về số tiền được cấp hạn mức tín dụng, thời hạn, mục đích, lãi suất vay, phương thức trả nợ...phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 122, Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015 nên có hiệu lực pháp luật.

Quá trình sử dụng thẻ tín dụng, bà H đã trả được cho Ngân hàng tổng cộng số tiền 25.940.050 đồng. Sau đó bà H không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả số nợ còn lại theo thỏa thuận hợp đồng. Xét thấy, khi ký kết hợp đồng, các bên đã thỏa thuận rõ ràng với nhau về số tiền vay, thời hạn trả nợ, phương thức trả... nhưng bà H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán quy định trong hợp đồng nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu phải trả lại số tiền nợ gốc 16.464.233 đồng là đúng với quy định tại Điều 280 Bộ luật dân sự 2015 nên có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về yêu cầu tiền lãi:

Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả tiền lãi, Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ vào khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật” và Điều 11 Quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng (Ban hành kèm theo quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước) quy định: “1. Mức lãi suất cho vay do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận phù hợp với quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. 2. Mức lãi suất áp dụng đối với khoản nợ gốc quá hạn do tổ chức tín dụng ấn định và thỏa thuận với khách hàng trong hợp đồng tín dụng nhưng không vượt quá 150% lãi suất cho vay áp dụng trong thời hạn cho vay đã được ký kết hoặc điều chỉnh trong hợp đồng tín dụng”, thì các mức lãi suất trong hạn tại hợp đồng tín dụng do các bên tự thỏa thuận và mức lãi suất nợ quá hạn được không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn. Đồng thời, căn cứ tại mục 23 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP SG đã được bà H ký tên xác nhận ngày 17/7/2017 và tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng thì các bên có thỏa thuận lãi suất cho vay là 2.15%/tháng và bên vay phải trả lãi quá hạn theo mức lãi suất bằng 150% lãi suất trong hạn tương đương 38.7%/năm. Từ ngày 30/4/2020, bà H vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số tiền nợ gốc sang nợ quá hạn. Như vậy, tiền lãi quá hạn Ngân hàng yêu cầu bà H trả tạm tính đến ngày 02/7/2021 là 9.160.912 đồng là có cơ sở chấp nhận.

Tiền lãi sẽ tiếp tục phát sinh trên số dư nợ gốc kể từ ngày 03/7/2021 cho đến khi trả hết nợ gốc theo lãi suất nợ quá hạn thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ký kết giữa bà Nguyễn Thị MH và Ngân hàng; Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP SG.

- Về thời hạn thanh toán: Hội đồng xét xử xét thấy, do bà H vi phạm thời hạn trả nợ như thỏa thuận đã ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng. Do đó, Ngân hàng yêu cầu bà H phải thanh toán hết một lần số tiền còn nợ ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật là có căn cứ chấp nhận.

Về án phí tranh chấp dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu trên giá trị số tiền bị đơn phải trả cho nguyên đơn;

Nguyên đơn không phải chịu án phí nên hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

. Quyền kháng cáo:

Các bên đương sự được quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 117, Điều 119 và Điều 280 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Khoản 2 Điều 91; khoản 2 Điều 95 Luật tổ chức tín dụng đã được sửa đổi, bổ sung năm 2010, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2011;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng TMCP SG:

Buộc bà Nguyễn Thị MH phải thanh toán Ngân hàng TMCP SG số tiền còn nợ theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tạm tính đến ngày 02/7/2021, cụ thể: Tiền gốc là 16.464.233 đồng, tiền lãi quá hạn là 9.160.912 đồng; tổng cộng là 25.625.145 đồng.

Thời hạn trả: Trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Bà Nguyễn Thị MH có trách nhiệm tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn quy định trong hợp đồng đã giao kết tính trên dư nợ gốc kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành xong.

Các bên thi hành dưới sự giám sát của cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

Bà Nguyễn Thị MH phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.281.257 đồng.

Ngân hàng TMCP SG không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP SG số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 529.863 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2019/0030388 ngày 20/01/2021 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Quyền kháng cáo:

Ngân hàng TMCP SG và bà Nguyễn Thị MH có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ