vanban.org

Bản án 170/2020/DS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TAND Quận 11, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 29/12/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Hữu Th1.

Tuyên bố bà Nguyễn Thúy Ph, sinh năm 1941; địa chỉ thường trú: đường T, Phường K, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: đường H, Phường C, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh là người mất năng lực hành vi dân sự. Lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: ông Nguyễn Hữu Th1 phải chịu là 300.000 đồng (ba tră… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Nguyễn Hữu Th - Nguyễn Thúy Ph"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Hữu Th1.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 170/2020/QĐST-DSQuận 11, ngày 29 tháng 12 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Phạm Thị Ngọc Diệp.

Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Thu Hiền – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Trương Võ Thùy Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 104/2020/TLST-DS ngày 02 tháng 10 năm 2020 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 27/2020/QĐST-DS ngày 08 tháng 12 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu: Ông Nguyễn Hữu Th, sinh năm: 1975; địa chỉ thường trú: đường T, Phường K, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: đường H, Phường C, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự đối với bà Nguyễn Thúy Ph, sinh năm 1941; địa chỉ thường trú: đường T, Phường K, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: đường H, Phường C, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người yêu cầu vắng mặt và có đơn xin vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Hữu Th2, sinh năm: 1974; Địa chỉ: ấp M, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh;

2. Ông Nguyễn Hữu Th3, sinh năm: 1972;

3. Ông Lương Hữu Th, sinh năm: 1986;

Cùng cư trú tại địa chỉ thường trú: đường T, Phường K, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: đường H, Phường C, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt và có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Bà Nguyễn Thúy Ph có cha là ông Nguyễn Văn S và mẹ là bà Lê Thị Đ đều đã chết. Bà Nguyễn Thúy Ph có chồng là ông Lương Bích H (sinh năm: 1939, đã chết) có 04 người con:

- Ông Nguyễn Hữu Th3, sinh năm: 1972;

- Ông Nguyễn Hữu Th2, sinh năm: 1974;

- Ông Nguyễn Hữu Th1, sinh năm: 1975;

- Ông Lương Hữu Th, sinh năm: 1986.

Bà Ph đã nhiều lần nhập viện điều trị do huyết áp cao. Tháng 5/2020, bà Ph đưa vào viện điều trị trễ nên việc chữa trị khó khăn và không hồi phục được, hiện đang sống đời sống thực vật. Bà Ph đang được ông Nguyễn Hữu Th1 và ông Lương Hữu Th nuôi dưỡng, chăm sóc.

* Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự nộp ngày 04/9/2020, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, người yêu cầu – ông Nguyễn Hữu Th1 – yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự đối với bà Nguyễn Thúy Ph để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bà Ph.

* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Nguyễn Hữu Th3, Nguyễn Hữu Th2, Lương Hữu Th đều thống nhất với yêu cầu của ông Nguyễn Hữu Th1.

* Tại phiên họp:

- Người yêu cầu – ông Nguyễn Hữu Th1 – giữ nguyên yêu cầu và có đơn xin vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có đơn xin vắng mặt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự như sau:

+ Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết việc dân sự, Thẩm phán, người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về tố tụng. Thẩm phán ban hành Quyết định mở phiên họp là chưa đảm bảo thời hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, cần khắc phục một số thiếu sót về thời hạn tố tụng.

- Về nội dung: Đề nghị Tòa án nhân dân Quận 11 chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Hữu Th1 về việc tuyên bố bà Nguyễn Thúy Ph mất năng lực hành vi dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Ông Nguyễn Hữu Th1 yêu cầu tuyên bố bà Nguyễn Thúy Ph, sinh năm 1941; tạm trú: đường H, Phường C, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh bị mất năng lực hành vi dân sự. Bà Ph hiện đang cư trú tại Quận 11 nên đây là việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 11, thành phố Hồ Chí Minh theo Điều 22 của Bộ luật Dân sự và khoản 1 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Kết quả xác minh của Công an Phường 13, Quận 11; Bản khai nhân khẩu thường trú trong nhà số đường T, Phường M, Quận G tại Công an Quận G ngày 21/9/1994 đối với căn hộ số đường T, Phường M, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Giấy khai sinh của ông Nguyễn Hữu Th1; Tòa án có cơ sở xác định ông Th1 là con của bà Ph nên ông Th1 có quyền yêu cầu tuyên bố bà Ph mất năng lực hành vi dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 22 của Bộ luật Dân sự: “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan …”.

Về yêu cầu của đương sự:

Ông Nguyễn Hữu Th1 có đơn yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự đối với bà Nguyễn Thúy Ph, sinh năm 1941; địa chỉ: địa chỉ thường trú: đường T, Phường K, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: đường H, Phường C, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bà Ph đã lớn tuổi có bệnh cao huyết áp. Hiện nay bà Ph bị nhồi máu não tái phát, tăng huyết áp, và một số bệnh khác dẫn đến sa sút trí tuệ, sống đời sống thực vật.

Căn cứ pháp lý để giải quyết yêu cầu:

Theo kết quả cung cấp thông tin của Công an Phường C, Quận 11, thành phố Hồ Chí Minh:

1.1 Bà Nguyễn Thúy Ph, sinh năm: 1941; HKTT: đường T, Phường M, Quận G. Hiện tạm trú tại: đường H, Phường C, Quận G.

1.2 Bà Nguyễn Thúy Ph, sinh năm: 1941 có Cha tên: Nguyễn Văn S (chết). Mẹ tên: Lê Thị Đ (Sn 1915) (chết).

1.3 Bà Nguyễn Thúy Ph, sinh năm 1941 có chồng tên Lương Hữu B, sn 1939 chết, không rõ thời gian chết, không giấy chứng tử.

1.4 Bà Nguyễn Thúy Ph, sn 1941 có 04 người con:

+ Nguyễn Hữu Th3, sn 1972

+ Nguyễn Hữu Th2, sn 1974

+ Nguyễn Hữu Th1, sn 1975

+ Lương Hữu Th, sn 1986.

Căn cứ vào Kết luận giám định pháp y tâm thần số 2157/KLGĐ ngày 23/11/2020 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, kết quả giám định pháp y tâm thần đối với bà Nguyễn Thúy Ph như sau:

“1.1. Về y học: Đương sự sa sút tâm thần trong nhồi máu não, mức độ nặng(F01-ICD10).

1.2 Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.”

Căn cứ Điều 22 Bộ luật Dân sự quy định: “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần”.

Căn cứ nội dung đơn yêu cầu, bản tự khai, kết luận giám định pháp y tâm thần và các chứng cứ khác có trong hồ sơ, Tòa án có cơ sở xác định bà Ph là người mắc bệnh không thể nhận thức, làm chủ hành vi của mình. Cuộc sống của bà Ph hiện nay hoàn toàn phụ thuộc vào sự chăm sóc của ông Th1, ông Thuận.

Những nhận định của Tòa án là phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11. Vì vậy, xét thấy ông Th1 yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự đối với bà Ph là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự:

Căn cứ khoản 1 Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; người yêu cầu ông Nguyễn Hữu Th phải chịu lệ phí là 300.000 đồng.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm a khoản 2 Điều 39; Điều 361, 370, 371, 372, 378 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào Điều 22 của Bộ luật Dân sự;

- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Hữu Th1.

Tuyên bố bà Nguyễn Thúy Ph, sinh năm 1941; địa chỉ thường trú: đường T, Phường K, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: đường H, Phường C, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh là người mất năng lực hành vi dân sự.

2. Lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: ông Nguyễn Hữu Th1 phải chịu là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) được cấn trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0015788 ngày 16/9/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11; đương sự đã nộp đủ lệ phí.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được quyết định./.

Cỡ chữ