- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đại D bị xét xử về tội "mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Bị cáo Lê Đại D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự n¨m; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 170/2018/HSST Ngày: 22/05/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Hữu Thái
- Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phan Kim Hoa
2. Bà Nguyễn Thị Mai Phương
- Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Mai An - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh - tỉnh Nghệ An.
- Đại diện VKSND thành phố Vinh tham gia phiên toà: ông Lưu Văn Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 05 năm 2018; tại: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 167/2018/HSST ngày 04 tháng 05 năm 2018. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 232/2018/QĐXXST - HS ngày 10 tháng 05 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Đại D; tên gọi khác: không; sinh năm 1992 tại huyện N, tỉnh Nghệ An; nơi ĐKNKTT: xóm 4, xã N, huyện N, Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Phạm Q, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị Tr, sinh năm 1968; anh chị em ruột: có 3 người, bị cáo là con thứ hai; vợ, con: chưa có; tiền án: ngày 12/04/2016 bị TAND thành phố Vinh, Nghệ An xử phạt 24 tháng tù về tội “mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong vào ngày 27/09/2017; tiền sự: Chưa.
Bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Nghệ An từ ngày 31/01/2018 cho đến nay, có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 31/01/2018, Lê Đại D nhận được điện thoại di động của một người phụ nữ tên Mai (D không rõ lai lịch, địa chỉ cụ thể) gọi vào số máy di động của D có số thuê bao 01665411225, qua điện thoại, M nói với D bán cho bạn của M 600.000 đồng ma túy. D đồng ý rồi đi đến khu vực bệnh viện Cửa Đông, thành phố Vinh gặp và mua của một người đàn ông (D không rõ lai lịch địa chỉ) 01 gói ma túy dạng đá với giá 400.000 đồng. Khoảng 13 giờ 40 phút cùng ngày 31/01/2018, D liên lạc với nam thanh niên mua ma túy theo số điện thoại của M đã nhắn tin và hẹn gặp nhau tại ngã tư đường Lý Tự Trọng giao nhau với đường Lê Nin thuộc xóm 23, xã Nghi Phú, thành phố Vinh để giao ma túy và tiền. Thống nhất xong, D cầm gói ma túy đi đến điểm hẹn thì bị tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Vinh phát hiện bắt quả tang, thu giữ trên tay phải của Lê Đại D 01 gói giấy màu trắng, tiếp theo là bao ni lông màu trắng, bên trong cùng là chât tinh thể màu trắng. D khai nhận đó là ma túy tổng hợp dạng đá mang đi bán kiếm lời, 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen đã qua sử dụng có số thuê bao 01665411225. Người cùng tang vật được đưa về công an thành phố Vinh lập biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang. Tại Cơ quan cảnh sát điều tra, Lê Đại D thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình.
Tại Kết luận giám định số 293/KL-PC 54 (MT) ngày 06/02/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: “chất tinh thể màu trắng thu giữ của Lê Đại D gửi tới giám định là chất ma túy tổng hợp (Methamphetamine), có khối lượng 0,320 gam”.
Tại Bản cáo trạng số 194/VKS-HS ngày 04/05/2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh đã truy tố Lê Đại D về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh giữ quyền công tố tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo từ 27 đến 30 tháng tù.
Ngoài ra, còn đề nghị miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và xử lý vật chứng là: Áp dụng Điểm a Khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015: Tịch thu tiêu 01 phong bì đã được niêm phong dán kín thu giữ của Lê Đại D, tịch thu hóa giá sung quỹ 01 chiếc điện thoại di động Nokia Wan màu đen đã cũ.
Tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã quy kết và không tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Vinh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về nội dung:
. Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Lê Đại D khai nhận như sau: Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 31/01/2018, tại Ngã tư đường Lý Tự Trọng giao nhau với đường Lê Nin thuộc xóm 23, xã Nghi Phú, thành phố Vinh Lê Đại D đang cất giữ 0,320 gam ma túy tổng hợp (Methamphetamine) mục đích bán kiếm lời thì bị tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Vinh phát hiện bắt quả tang.
Như vậy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án.
Vì vậy, có đầy đủ cơ sở để khẳng định: Hành vi Lê Đại D đang cất giữ 0,320 gam ma túy tổng hợp (Methamphetamine) mục đích bán kiếm lời đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 BLHS như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã quy kết.
. Đây là vụ án thuộc loại nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến chính sách quản lý độc quyền của nhà nước đối với các chất gây nghiện như ma túy tổng hợp (Methamphetamine). Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, Đảng và nhà nước đang kiên quyết đấu tranh nhằm đẩy lùi tệ nạn ma túy ra khỏi cộng đồng xã hội. Bản thân bị cáo nhận thức được ma túy là chất độc hại, Nhà nước cấm mua bán, tàng trữ, sử dụng, vận chuyển nhưng vẫn liều lĩnh thực hiện hành vi phạm tội, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Vì vậy, cần phải xét xử nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ để giáo dục riêng cũng như phòng ngừa chung.
Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nên cần xử phạt nghiêm.
Tuy nhiên, xét thấy quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải, nên cần áp dụng điểm s Khoản 1Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.
. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 5 Điều 251 BLHS thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đ đến 500.000.000 đồng nhưng xét thấy bị cáo hiện nay không có công ăn việc làm ổn định, tài sản riêng không có gì nên miễn cho bị cáo.
. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chất ma túy tổng hợp (Methamphetamine), có khối lượng 0,320 gam là vật chứng vụ án cần tịch thu tiêu hủy, đối 01 chiếc điện thoại di động Nokia Wan màu đen đã cũ cần tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự n¨m 2015.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
[1] Tuyên bố: Bị cáo Lê Đại D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015; Xử phạt: Bị cáo Lê Đại D: 27 (hai mươi bảy) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 31/01/2018.
[2] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự n¨m 2015: Tịch thu tiêu 01 phong bì đã được niêm phong dán kín thu giữ của Lê Đại D, tịch thu hóa giá sung quỹ 01 chiếc điện thoại di động Nokia Wan màu đen đã cũ. Phiếu nhập kho số NK895 ngày 17/05/2018).
[3] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Đại D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKS ND TP Vinh; - VKS ND tỉnh Nghệ An; - Công an TP Vinh; - Chi cục THA TP Vinh; - Trại TG công an Nghệ An; - TAND tỉnh Nghệ An; - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An; - Lưu hồ sơ vụ án; Lưu VP. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Thái |