vanban.org

Bản án 170/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 13/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Nguyễn Thị D phạm tội “ Trộm cắp tài sản”

Xử phạt: Nguyễn Thị D 06 ( sáu tháng) tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "173. Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nguyễn Thị D phạm tội “ Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ T
Tỉnh Thanh hóa

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 170/2018/HS-ST
Ngày: 13/8/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T - TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hoa

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Ông Lê Anh Tuấn

2. Bà Lê Thị Loan

- Thư ký phiên toà: Bà Mai Thị Thu Trang - là Thư ký Tòa án nhân dân

Thành phố T, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát Thành phố T, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Lê Khánh Toàn - Kiểm sát viên

Ngày 13 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố T, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 267/2018/TLST- HS ngày 11 tháng 7 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 177/2018/QĐXXST- HS ngày 03 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị D, sinh ngày 22 tháng 7 năm 1975; Đăng ký hộ khẩu thường trú: Đường L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hoá; chỗ ở: Số nhà 310J Bà Triệu, phường Đông Thọ, thành phố T; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; giới tính: nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông: Nguyễn Đức M ( đã chết) và bà Nguyễn Thị C ( đã chết); chồng: Nguyễn Thanh V - sinh năm 1972; có 02 con lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: không; bị cáo đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: Nguyễn Thành Đ - sinh năm 1986 ( vắng mặt) Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Phố Đ1, phường Đ, thành phố T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 04/6/2018 anh Nguyễn Thành Đ ở số nhà 09 đường Đ, phường Đông T, thành phố Thanh Hóa đến UBND phường Đ để công chứng giấy tờ, khi về anh Đ để quên trên bàn tiếp dân 01 ví màu đen bên trong có giấy tờ cá nhân và số tiền 3.000.000đ. sau đó chị Lê Thị Thanh H là cán bộ tiếp dân của UBND phường Đ biết ví của khách để quên nên cầm lên và xem ví của ai để nhận lại, thấy không có ai nhận nên chị H kiểm tra ví bên trong có giấy tờ tùy thân, nhiều tờ tiền mệnh giá 500.000đ và một số tờ mệnh giá thấp hơn nên đã cất ví trong ngăn bàn tiếp dân. Lợi dụng lúc chị H đi ra ngoài và người dân đến công chứng không để ý Nguyễn Thị D đi lại thò tay xuống ngăn bàn lấy chiếc ví màu đen mở ví ra và lấy đi số tiền 2.000.000đ tiền mệnh giá 500.000đ. Đến ngày 05/6/2018 Nguyễn Thị D đến công an phường Đông T, thành phố T đầu thú hành vi phạm tội của mình và giao nộp số tiền 2.000.000đ.

Bị hại anh Nguyễn Thành Đ khai nhận số tiền bị mất trộm trong ví là 3.000.000đ, quá trình điều tra và đối chất giữa anh Đ và Nguyễn Thị D, D vẫn giữ nguyên quan điểm như ban đầu, số tiền mà D trộm cắp ngày 4/6/2018 là 2.000.000đ.

Ngày 05/7/2018 cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Thanh Hóa đã trả lại số tiền 2.000.000đ cho bị hại. Anh Nguyễn Thành Đạt không yêu cầu gì thêm.

Tại bản cáo trạng số 180/CT-VKS-KT ngày 11 tháng 7 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố T, tỉnh T truy tố Nguyễn Thị D về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát Thành phố T, tỉnh Thanh Hoá luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i , s khoản 1,2 Điều 51; Điều 65; BLHS; khoản 2 Điều 136 BLTTHS đề nghị xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, lời sau cùng đề nghị hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thanh Hóa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình đều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, người làm chứng tang vật thu được trong vụ án cùng các chứng cứ, tài liệu khác thu thập được phản ánh trong hồ sơ. Đủ cơ sở chứng minh: Khoảng 9h ngày 04/6/2018 tại phòng tiếp dân UBND phường Đ, thành phố T, Nguyễn Thị D đã có hành vi lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu lén lút chiếm đoạt số tiền 2.000.000đ của anh Nguyễn Thành Đ.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát luận tội và giữ nguyên quyết định truy tố Nguyễn Thị D về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ và phù hợp với qui định của pháp luật. Hội đồng xét xử có đủ cở sở kết luận: Hành vi phạm tội của Nguyễn Thị D có đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được qui định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Đây là vụ trộm cắp tài sản được thực hiện vào ban ngày, tại trụ sở nơi đông người, bị cáo lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ tài sản trong việc trông coi quản lý tài sản của mình, nhanh chóng tiếp cận, lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản một cách trái pháp luật. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an nơi khu vực, là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do vậy phải được xử lý nghiêm minh.

Về nhân thân, trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo là người có độ tuổi chín chắn nhưng do tham lam, nên đã nảy sinh hành vi trộm cắp, nhất thời lao vào con đường phạm tội. Nhân thân bị cáo chưa tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã đầu thú, thành khẩn khai báo, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được qui định tại điểm b,h, i, s khoản 1,2 Điều 51 của BLHS. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nêu trên, nghĩ nên chưa cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà sữa chữa sai phạm của mình, trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Theo báo cáo của bị hại anh Nguyễn Thành Đ tài sản bị trộm cắp là 2.000.000đ, anh đã nhận lại đầy đủ và không có ý kiến gì, nghĩ nên công nhận bị hại đã nhận lại đầy đủ tài sản.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Nguyễn Thị D phạm tội “ Trộm cắp tài sản”

Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1,2 Điều 51; khoản 1,2 và 5 Điều 65 BLHS ; khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội qui định mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Nguyễn Thị D 06 ( sáu tháng) tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Công nhận bị hại anh Nguyễn Thành Đ đã nhận lại tài sản đầy đủ.

- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000đ

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7,9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ