vanban.org

Bản án 170/2018/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "bồi thường thiệt hại"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
T A ÁN NHÂN DÂN
HU N CH MỚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 170/2018/DS-ST
Ngày: 14/11/ 2018
V/v tranh chấp “Bồi thường
thiệt hại về sức khỏe”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H A XÃ HỘ CHỦ NGHĨA V T NAM

T A ÁN NHÂN DÂN HU N CH MỚ , T NH AN G ANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Anh Thư.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hồng.

2. Bà Nguyễn Thị Hồng Huệ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Kiệt – Thư Tòa án nhân dân huyện Ch M i, t nh An Giang.

- Đại diện Viện ki m sát nhân dân huyện Ch M i, t nh An Giang tham gia phiên toà: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2018 tại trụ s Tòa án nhân dân huyện Ch M i, t nh An Giang xét xử sơ thẩm công hai vụ án thụ l số: 196/2018/TLST-DS ngày 08 tháng 5 năm 2018 về tranh chấp “Bồi thường thiệt hại về sức khỏe” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 237/2018/QĐXXST-DS, ngày 01 tháng 11 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Ê, sinh năm 1953.

Cư trú: p M T, x M, huyện C, t nh An Giang.

Người đại diện h p pháp của bà Lê Thị Ê là bà Nguyễn Thị Trúc L, sinh năm 1989. Cư trú: p T, x M, huyện C, t nh An Giang là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 10/7/2018) (Có mặt).

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Xuân A, sinh năm 1995 ( Có mặt).

Cư trú: p H, x G, huyện C, t nh An Giang.

3. Người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Nguyễn Đông T, sinh năm 1970 (Có mặt).

Cư trú: p H, x G, huyện C, t nh An Giang.

+ Bà Thái Thị Th, sinh năm 1951 (Có văn bản xin vắng mặt).

Cư trú: p T, x ĐB, huyện C, t nh An Giang.

NỘ DUNG VỤ ÁN

Trong đơn h i iện, bản tự hai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Trúc L trình bày: Vào hoảng 18 giờ 30 phút ngày 11/5/2017 (nhằm ngày 16/4âl/2017), bà Ê đang đứng trư c nhà bị ông Nguyễn Xuân A điều hiển xe mô tô biển số 67H6-3559 chạy hư ng từ x Kiến Thành về x Nhơn M đụng thẳng vào bà Ê làm bà Ê bất t nh tại chỗ nên người nhà đưa bà Ê đi nhập viện bệnh viện Đa hoa t nh An Giang điều trị. Qua điều trị tại đây bà Ê bị dập n o thái dương đến ngày 29/5/2017 bà Ê xuất viện. Nay xác định chi phí yêu cầu bồi thường gồm:

1/ Chi phí điều trị tại Bệnh viện Đa hoa An Giang (gọi tắt là Bệnh viện) từ ngày 11/5/2017 đến ngày 29/5/2018 là 5.248.878 đồng và chi phí tái hám là 3.265.622 đồng;

2/ Tiền bồi dưỡng trong thời gian điều trị tại Bệnh viện. Cụ thể do mẹ bà hông ăn đư c nên Bác sĩ ch định cho mẹ bà uống sữa Ensua thời gian 18 ngày x 190.000 đồng/ngày = 3.420.000 đồng;

3/ Tiền thuê xe cấp cứu 01 lần là 500.000 đồng;

4/ Tiền thuê xe taxi về 01 lần là 500.000 đồng;

5/ Tiền thuê xe taxi tái hám 04 lần là 500.000 đồng x 4 lần = 2.000.000 đồng;

6/ Tiền người nuôi bệnh 18 ngày x 150.000 đồng/ngày = 2.700.000 đồng;

7/ Tiền người chăm sóc người bệnh sau hi xuất viện 06 tháng x 180.000 đồng/ngày = 32.000.000 đồng (vì sau hi xuất viện mẹ bà hông tự chăm sóc bản thân đư c. Chị bà phải ngh việc để nuôi mẹ);

8/ Tiền nư c vô n o 280.000 đồng/lần x 24 lần = 6.720.000 đồng (phần này hông có hóa đơn và hông có ch định của Bác sĩ, nhưng sau hi xuất viện mẹ bà phục hồi chậm nên gia đình nóng ruột tự điều trị);

9/ Tiền sức hỏe mẹ bà bị giảm sút là 10.000.000 đồng (hiện nay mẹ bà đi đứng hông vững, phải có người giúp);

10/ Tiền tổn thất tinh thần 5.000.000 đồng;

11/ Tiền giường nằm bệnh 18 ngày x 150.000 đồng/ngày = 2.700.000 đồng;

Tổng cộng chi phí là 74.454.500 đồng nhưng bà ch yêu ông Nguyễn Xuân A có nghĩa vụ bồi thường cho mẹ bà số tiền 40.000.000 đồng. Ngoài ra hông còn yêu cầu hác và hông yêu cầu ai hác ngoài ông A.

Trư c đây gia đình bà có nhận số tiền 7.000.000 đồng tại Công an x Nhơn M do ông A bồi thường. Tại phiên Tòa hôm nay, bà L đồng hấu trừ số tiền 7.000.000 đồng đ nhận vào số tiền 40.000.000 đồng, yêu cầu ông A bồi thường số tiền 33.000.000 đồng. Do xe mô tô ông A điều hiển gây ra tai nạn là của ông Nguyễn Đông T (cha ông A), nên tại phiên tòa hôm nay bà yêu cầu ông T phải có trách nhiệm liên đ i cùng ông An bồi thường số tiền trên.

Bị đơn ông Nguyễn Xuân A trình bày: Vào hoảng 18 giờ 30 phút ngày 11/5/2017, ông điều hiển xe mô tô biển số 67H6-3559 {(xe này là của cha ông là Nguyễn Đông T, sinh năm 1970. Cư trú: Cùng địa ch v i ông, mua của bà Thái Thị Th, ngụ ấp T, x Đ B, huyện C, t nh An Giang chưa làm thủ tục sang tên. Hôm ông lấy xe điều hiển và gây tai nạn giao thông cho bà Ê thì hôm đó xe dựng trong nhà, hi ông lấy xe thì cha ông hông biết và hi ông điều hiển xe này thì ông chưa có giấy phép lái xe)} chạy hư ng từ x Kiến Thành về x Nhơn M hi đến hu vực ấp M Thuận, x Nhơn M thì ông gặp bà Ê đang xuống xe phía trư c mặt ông (cùng chiều v i xe ông đang điều hiển) nhưng bà Ê băng qua lộ ông lách xe qua né thì tay cầm xe trúng vào bà Ê làm bà Ê té ng xuống đường và nhập viện. Sau hi xảy ra tai nạn thì ông và gia đình có đến thăm hỏi bà Ê nhiều lần. Đến ngày 26/7/2017 thì ông và bà Ê có đến Công an x Nhơn M thỏa thuận ông sẽ bồi thường toàn bộ tiền chi phí cho bà Ê 15.775.000 đồng trong vòng 1,5 tháng nhưng bà Ê phải xuất trình những hóa đơn chứng từ tiền thuốc cho ông, nhưng bà Ê hông xuất trình đư c nên ông ch trả trư c 7.000.000đ thì ngưng cho đến nay. Nay đối v i yêu cầu của bà Ê ông hông đồng , ông ch đồng bồi thường cho bà Ê số tiền 8.775.000 đồng.

Tại phiên tòa hôm nay, ông A vẫn giữ nguyên iến trình bày.

Người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đông T trình bày: Xe mô tô biển số 67H6-3559 do con ông là Nguyễn Xuân A điều hiển gây tai nạn cho bà Lê Thị Ê vào ngày 11/5/2017 là xe của ông mua của bà Thái Thị Th, ngụ ấp T, x Đ B, huyện C, t nh An Giang vào năm 2006, đ trả tiền đủ và sử dụng từ đó đến nay, nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Hôm con ông điều hiển xe gây tai nạn giao thông cho bà Ê thì ông hông biết, vì ông đi làm hông có nhà. Nay ông có iến phần bồi thường thiệt hại sức hỏe của bà Ê 40.000.000 đồng ông hông có hả năng.

Tại phiên tòa hôm nay, ông T vẫn giữ nguyên iến trình bày.

Người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan bà Thái Thị Th trình bày: Xe mô tô biển số 67H6-3559 trư c đây bà mua để sử dụng và bà đứng tên trên giấy chứng nhận đăng

xe. Vào hoảng năm 2006, bà đ bán xe này lại cho ông Nguyễn Đông T, sinh năm 1970, cư trú: p H, x G, huyện C, t nh An Giang, v i giá 3.500.000 đồng, bà đ nhận đủ tiền, nhưng chưa làm thủ tục sang tên cho ông T. Từ hi bán xe đến nay bà hông còn liên hệ gì v i ông T và bà đ bán xe cho ông T nên bà hông còn trách nhiệm gì v i xe này nữa. Nay con ông T là Nguyễn Xuân A điều hiển xe này gây tai nạn cho bà Lê Thị Ê thì ông A có trách nhiệm đối v i bà Ê. Đối v i vụ iện này bà hông có iến hay yêu cầu gì trong vụ iện này.

Đại diện Viện iểm sát nhân dân huyện Ch M i phát biểu iến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng ể từ hi thụ l vụ án cho đến trư c thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng v i quy định của pháp luật. Ý iến về việc giải quyết vụ án: Theo bà Lê Thị Ê trình bày: Ngày 11/5/2017, bà đang đứng trư c nhà thì bị ông Nguyễn Xuân A điều hiển xe mô tô biển số 67H6 - 3559 chạy hư ng từ x Kiến Thành đến x Nhơn M đụng gây tai nạn. Hậu quả: Bà Ê bị dập n o thái dương phải nhập viện điều trị, đến ngày 29/5/2017 xuất viện. Nay, bà Ê yêu cầu ông A bồi thường thiệt hại về sức hỏe 40.000.000 đồng, đ nhận 7.000.000 đồng, yêu cầu bồi thường tiếp 33.000.000 đồng.

Phía ông Nguyễn Xuân A ch đồng bồi thường theo biên bản hòa giải ngày 28/7/2017 của Công an x Nhơn M v i số tiền 15.775.000 đồng, đ trả 7.000.000 đồng, còn lại 8.775.000 đồng.

Xét thấy, sau hi sự việc xảy ra Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Ch M i đ tiến hành các biện pháp như: Khám nghiệm hiện trường, thu thập chứng cứ, ghi lời hai của các đương sự, xác minh làm rõ vụ án và đ ết luận “Tỷ lệ thương tật của bà Ê là 25% chưa đủ định lư ng đ xử lý hình sự”. Đến ngày 17/4/2018, bà Ê h i iện tại Tòa án nhân dân huyện Ch M i yêu cầu ông A bồi thường thiệt hại về sức hỏe v i tổng số tiền 40.000.000 đồng.

Thiệt hại xảy ra đối v i bà Ê là thương tật vĩnh viễn 25% đư c xác định do ông A điểu hiển xe mô tô biển số 67H6 – 3559 gây ra nên việc bà Ê h i iện yêu cầu bồi thường thiệt hại là phù h p Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015.

Các hoản chi phí h p l đư c chấp nhận, cụ thể: Chi phí điều trị tại Bệnh viện Đa hoa An Giang từ ngày 11/5/2017 đến ngày 29/5/2018 là 5.248.878 đồng và chi phí tái hám là 3.265.622 đồng; tiền bồi dưỡng trong thời gian điều trị tại Bệnh viện (uống sữa Ensua) 18 ngày x 190.000 đồng/ngày = 3.420.000 đồng; tiền thuê xe cấp cứu 01 lần là 500.000 đồng; tiền thuê xe taxi về 01 lần là 500.000 đồng; tiền thuê xe taxi tái hám 04 lần là 500.000 đồng x 4 lần = 2.000.000 đồng; tiền người nuôi bệnh 18 ngày x 150.000 đồng/ngày = 2.700.000 đồng; tiền sức hỏe bị giảm sút là 10.000.000 đồng (bà Ê hông tự đi đứng, phải có người giúp); tiền người chăm sóc người bệnh sau hi xuất viện 06 tháng x 180.000 đồng/ngày = 32.000.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần 5.000.000 đồng; tiền giường nằm bệnh 18 ngày x 150.000 đồng/ngày = 2.700.000 đồng. Tổng cộng 67.334.500 đồng.

Tuy nhiên, bà Ê ch yêu cầu bồi thường 40.000.000 đồng là hông vư t quá yêu cầu h i iện ban đầu nên có cơ s chấp nhận yêu cầu của bà Ê. Ông A đ bồi thường xong 7.000.000 đồng nên có nghĩa vụ bồi thường tiếp cho bà Ê 33.000.000 đồng.

Đối v i bà Th (chủ s hữu xe mô tô 67H6 - 3559), ông T là người quản l xe mô tô 67H6 - 3559, do bà Ê hông yêu cầu trách nhiệm liên đ i nên hông đề cập giải quyết.

Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 590, 601 Bộ luật dân sự năm 2015, xem xét quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA T A ÁN

Sau hi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đư c thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào ết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Nguyên đơn h i iện bị đơn ông Nguyễn Xuân A, ông A có nơi cư trú tại ấp H, x G, huyện C, t nh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Ch M i thụ l giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

[2] Tại phiên Tòa hôm nay, bà L thay đổi yêu cầu h i iện bà đồng hấu trừ số tiền 7.000.000 đồng đ nhận vào số tiền 40.000.000 đồng, bà ch yêu cầu ông A bồi thường cho mẹ bà số tiền 33.000.000 đồng. Xét thấy, việc thay đổi rút một phần yêu cầu h i iện của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện và việc thay đổi này hông vư t quá phạm vi h i iện ban đầu. Căn cứ Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi yêu cầu của nguyên đơn.

[3] Đối v i yêu cầu ông T phải có trách nhiệm liên đ i cùng ông An bồi thường, do xe mô tô ông An điều hiển gây ra tai nạn là của ông Nguyễn Đông T (cha ông A). Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình giải quyết vụ án, bà L xác định ch yêu cầu ông An bồi thường mà hông yêu cầu trách nhiệm liên đ i của ông T. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay bà L đại diện ủy quyền của nguyên đơn có yêu cầu ông T phải có trách nhiệm liên đ i cùng v i ông An bồi thường cho mẹ bà chi phí 33.000.000 đồng là vư t quá phạm vi yêu cầu h i iện ban đầu, làm ảnh hư ng đến quyền l i của ông T. Do đó, căn cứ Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Hội đồng xét xử hông chấp nhận việc thay đổi yêu cầu h i iện của nguyên đơn.

[4] Xét lời trình bày và yêu cầu của các đương sự, Hội đồng xét xử thấy rằng: Vào hoảng 18 giờ 30 phút ngày 11/5/2017, ông Nguyễn Xuân A điều hiển xe mô tô biển số 67H6-3559 chạy hư ng từ x Kiến Thành về x Nhơn M hi đến hu vực ấp M Thuận, x Nhơn M gây tai nạn cho bà Lê Thị Ê hậu quả làm bà Ê bị dập n o thái dương phải điều trị tại bệnh viện Đa hoa An Giang từ ngày 11/5/2017 đến ngày 29/5/2017. Vấn đề này đư c các đương sự thừa nhận. Căn cứ Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 xác định việc ông An gây thương tích cho bà Ê là có thật. Do đó, ông A phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bà Ê theo Điều 584 Bộ luật dân sự 2015 là phù h p.

[5] Xác định thiệt hại để bồi thường hi sức hỏe bị xâm phạm là những chi phí nguyên đơn yêu cầu bồi thường, Hội đồng xét xử nhận thấy: Đối v i chi phí điều trị tại Bệnh viện Đa hoa An Giang (gọi tắt là Bệnh viện) từ ngày 11/5/2017 đến ngày 29/5/2018 là 5.248.878 đồng và chi phí tái hám là 3.265.622 đồng (có hóa đơn); Tiền giường nằm bệnh 18 ngày x 150.000 đồng/ngày = 2.700.000 đồng; Tiền bồi dưỡng trong thời gian điều trị tại Bệnh viện. Cụ thể do mẹ bà hông ăn đư c nên Bác sĩ ch định cho mẹ bà uống sữa Ensua thời gian 18 ngày x 190.000 đồng/ngày = 3.420.000 đồng; Tiền thuê xe cấp cứu 01 lần là 500.000 đồng; Tiền thuê xe taxi về 01 lần là 500.000 đồng; Tiền thuê xe taxi tái hám 04 lần là 500.000 đồng x 4 lần = 2.000.000 đồng. Đây là những chi phí h p l cho việc cứu chữa, bồi dưỡng người bị thiệt hại, mặc dù có những chi phí phía nguyên đơn hông cung cấp đư c chứng từ hóa đơn, nhưng các hoản chi trên phù h p v i thực tế. Do đó, căn cứ Điều 590 Bộ luật dân sự 2015, Hội đồng xét xử chấp nhận những chi phí này là phù h p.

Đối v i chi phí người nuôi bệnh 18 ngày x 150.000 đồng/ngày = 2.700.000 đồng. Xét thấy, trong thời gian bà Ê nằm viện cũng cần phải có người chăm sóc và theo quy định tại điểm c hoản 1Điều 590 của Bộ luật dân sự 2015 có quy định bồi thường chi phí h p l và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị. Hiện nay, ngày công lao động tại địa phương hoảng 200.000 đến 300.000đồng/ngày, tuy nhiên phía bà Ê ch yêu cầu mức 150.000đ/ ngày, đây là sự tự nguyện của đương sự và sự tự nguyện này phù h p và thực tế thời gian bà Ê nằm viện từ ngày 11/5/2017 đến ngày 29/5/2017 là 18 ngày x 150.000đ/ngày = 2.700.000 đồng nên có cơ s để Hội đồng xét xử chấp nhận chi phí này.

Đối v i chi phí người chăm sóc người bệnh sau hi xuất viện 06 tháng x 180.000 đồng/ngày = 32.000.000 đồng, theo bà L trinh bày sau hi xuất viện mẹ bà hông tự chăm sóc bản thân đư c. Chị bà phải ngh việc để nuôi mẹ. Xét thấy, tuy t lệ thương tật của bà Ê ch có 25% , bà Ê chưa đến mức mất hả năng lao động nhưng qua xác minh tại địa phương thì bà Ê sau hi bị tại nạn sức hỏe giảm sút, mọi sinh hoạt của bà đều phải có người chăm sóc. Do đó, cần phải bồi thường chi phí cho người thường xuyên chăm sóc người bị thiệt hại, mức ngày công lao động mà bà Ê yêu cầu phù h p v i mức ngày công lao động tại địa phương, Hội đồng xét xử, xét chấp nhận yêu cầu này của bà Ê.

Đối v i chi phí tiền nư c vô n o 280.000 đồng/lần x 24 lần = 6.720.000 đồng (phần này hông có hóa đơn và hông có ch định của Bác sĩ), nhưng bà L cho rằng sau hi xuất viện mẹ bà phục hồi chậm nên gia đình nóng ruột tự điều trị. Xét thấy, như đ phân tích sau hi bị tai nạn bà Ê bị chấn thương vùng đầu, dập n o thái dương, sau hi điều trị tại bệnh viện thì sức hỏe bị giảm sút đến nay bản thân bà cũng hông tự chăm sóc đư c cho mình, mặc dù việc vô nư c n o hông đư c ch định của Bác sĩ nhưng đây là chi phí cần thiết cho bà Ê trong quá trình hỗ tr bà phục hồi sức hỏe và số tiền mà nguyên đơn yêu cầu cũng như số lần điều trị phù h p v i thực tế nên căn cứ điểm a hoản 1 Điều 590, Hội đồng xét xử chấp nhận chi phí này.

Đối v i yêu cầu tiền sức hỏe mẹ bà bị giảm sút là 10.000.000 đồng, tại phiên tòa hôm nay bà L xác định mẹ bà đ quá tuổi lao động nên hông yêu cầu tiền công lao động, ch yêu cầu chi phí ăn uống, bồi dưỡng phục hồi sức hỏe cho mẹ bà sau hi xuất viện vì hiện nay mẹ bà sức hỏe bị giảm sút, đi đứng hông vững. Xét thấy, tại Điều 590 Bộ luật dân sự 2015 có quy định bồi thường chi phí phục hồi sức hỏe nên yêu cầu này của bà Ê là có căn cứ Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối v i tiền tổn thất tinh thần 5.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy, thương tật của bà Ê 25%, theo quy định của pháp luật trong mọi trường h p hi sức hỏe bị xâm phạm, người bị thiệt hại đư c bồi thường hoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn ch yêu cầu số tiền 5.000.000 đồng xét mức yêu cầu này là phù h p v i quy định tại Điều 590 Bộ luật dân sự 2015 nên chấp nhận.

Từ những phân tích trên, có cơ s để Hội đồng xét xử xem xét chi phí bồi thường thiệt hại do sức hỏe bị xâm phạm tổng số tiền là 74.054.500đ.

[6] Xét về yếu tố lỗi, ông A cho rằng bà Ê bị tai nạn có phần do lỗi của bà Ê vì hi ông điều hiển xe mô tô đến hu vực ấp M Thuận, x Nhơn M thì gặp bà Ê đang xuống xe phía trư c mặt ông (cùng chiều v i xe ông đang điều hiển) nhưng bà Ê băng qua lộ ông lách xe qua né thì tay cầm xe trúng vào bà Ê làm bà Ê té ng . Hội đồng xét xử xét thấy, đương sự phải có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình là có căn cứ, tuy nhiên ông A hông cung cấp đư c chứng cứ chứng minh lỗi của bà Ê trong hi theo ết luận điều tra thì ông A điều hiển xe mô tô hông có giấy phép lái xe h p lệ, chạy xe ban đêm hông có đèn chiếu sáng, vi phạm phần đường va chạm vào bà Ê đang đứng phần đường bên trái, hậu quả làm bà Ê bị thương tích. Do đó, trong vụ án này phần lỗi hoàn toàn thuộc về ông A nên ông A phải có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bà Ê là phù h p theo quy định tại Điều 585 bộ luật dân sự 2015.

[7] Xét mức bồi thường. Tại phiên tòa hôm nay, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đồng hấu trừ số tiền 7.000.000 đồng đ nhận vào số tiền 40.000.000 đồng và xác định yêu cầu ông A bồi thường số tiền 33.000.000 đồng. Thấy rằng tổng chi phí mà bà Ê bị thiệt hại do sức hỏe bị xâm phạm đư c bồi thường theo quy định pháp luật là 74.054.500đ, nhưng bà Ê ch yêu cầu bồi thường thêm số tiền 33.000.000 đồng. Đây là quyền tự định đoạt của đương sự, do đó Hội đồng xét xử có cơ s chấp nhận yêu cầu của bà Ê, buộc ông A phải có trách nhiệm bồi thường cho bà Ê số tiền 33.000.000 đồng. Hội đồng xét xử hông có cơ s để chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Xuân A ch đồng bồi thường theo biên bản hòa giải ngày 28/7/2017 của Công an x Nhơn M v i số tiền 15.775.000 đồng, đ trả 7.000.000 đồng, còn lại 8.775.000 đồng.

[8] Đối v i người có quyền l i và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đông T. Tại phiên tòa hôm nay ông T xác định xe mô tô do An điều hiển gây tai nạn là của ông mua của người hác chưa sang tên nên liên quan đến trách nhiệm bồi thường của chủ s hữu nguồn nguy hiểm cao độ hi giao xe cho người hông đủ điều iện. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, bà L xác định ch yêu cầu ông A bồi thường mà hông yêu cầu trách nhiệm liên đ i của ông T nên Hội đồng xét xử hông đề cập giải quyết.

Đối v i bà Thái Thị Th, quá trình giải quyết bà Thắm xác định xe mô tô biển số 67H6-3559 là của bà bán cho ông Nguyễn Đông T, chưa làm thủ tục sang tên, hiện nay bà Th hông có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử hông đề cập giải quyết.

[9] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn đư c chấp nhận nên ông Nguyễn Xuân A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QU ẾT ĐỊNH:

Áp dụng: - Các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 228, Điều 244 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

- Các Điều 357, Điều 468, Điều 584, Điều 585, Điều 590 Bộ luật dân sự 2015.

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu h i iện của bà Lê Thị Ê đối v i ông Nguyễn Xuân A.

Buộc ông Nguyễn Xuân A có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bà Lê Thị Ê số tiền 33.000.000 đồng (Ba mươi ba triệu đồng).

- Án phí dân sự sơ thẩm: 1.650.000 đồng (Một triệu, sáu trăm năm mươi nghìn đồng) ông Nguyễn Xuân A phải chịu.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối v i các trường h p cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc ể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người đư c thi hành án (đối v i các hoản tiền phải trả cho người đư c thi hành án) cho đến hi thi hành án xong, tất cả các hoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu hoản tiền l i của số tiền còn phải thi hành án theo mức l i suất quy định tại hoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

Các đương sự đư c quyền háng cáo trong hạn 15 ngày ể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt đư c quyền háng cáo trong hạn 15 ngày ể từ ngày nhận đư c tống đạt h p lệ bản án.

Trường h p bản án, quyết định đư c thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người đư c thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án đư c thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ