- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đặng Thị Giàu - Peng Po Cheng"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 153 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
THÀNH!PHỐ!CẦN!THƠ!
NAM!
Độc!lập!-!Tự!do!-!Hạnh!phúc!
! Bản án số: 17/2025/HNGĐ-ST Ngày: 22/01/2025 V/v "Tranh chấp ly hôn".
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!CẦN!THƠ!
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông!Võ Bảo Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Long
Bà Dương Hiền Trúc Lan
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Phong Lan - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.!
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên
Ngày 22 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 58/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST ngày 02 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đặng!Thị!G,!sinh năm 2000!
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: Ông Peng!Po!C,!sinh năm 1981 Địa chỉ: Số B đường T, khóm G, phường M, Khu D, thành phố Đ, Đài Loan.
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đặng Thị G trình bày và yêu cầu:
Bà và ông Peng Po C sau thời gian tự tìm hiểu nhau và sau đó tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện T, thành phố Cần Thơ (Việt Nam) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 307/2019 cấp ngày 15/10/2019.
Bà và ông Peng Po C chung sống với nhau tại Đài Loan được 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn nên hai người đã ly thân khoảng 02 năm nay. Bà trở về Việt Nam sinh sống cùng gia đình bà, còn ông Peng Po C vẫn ở Đài Loan. Do không thể hàn gắn nên bà xin được ly hôn với ông Peng Po C.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn là ông Peng Po C vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không thu thập được ý kiến của ông.
Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tại phiên tòa: Những người tiến hành tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xét xử vụ án. Về nội dung vụ án nhận thấy: Do hai bên bất đồng ngôn ngữ, không hiểu nhau nên phát sinh mâu thuẫn, sau khi kết hôn chỉ chung sống thời gian rất ngắn rồi ly thân. Do tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án chấp nhận cho bà Đặng Thị G được ly hôn với ông Peng Po C.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn khai không có nên không xem xét giải quyết, nếu có phát sinh tranh chấp tách thành vụ kiện khác khi đương sự có yêu cầu.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Đặng Thị G khởi kiện xin ly hôn với ông Peng P Cheng cư trú tại Đài Loan nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 37 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bà Đặng Thị Giàu C1 đơn đề nghị xét xử vắng mặt, còn ông Peng Po C đã được Tòa án tống đạt thông báo hợp lệ về thời gian mở phiên tòa nhiều lần nhưng vắng mặt không lý do. Vì vậy, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là có căn cứ.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị G và ông P1 Po Cheng tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện T, thành phố Cần Thơ (Việt Nam) theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 307/2019 cấp ngày 15/10/2019, nên xác định là hôn nhân hợp pháp. Theo bà G trình bày, trong quá trình chung sống tại nhà ông P1 Po Cheng ở bên Đài Loan được hai năm thì phát sinh mâu thuẫn, nên đã ly thân và sau đó thì bà trở về Việt Nam sinh sống cùng gia đình, còn ông Peng Po C vẫn ở lại Đài Loan.
Xét thấy, giữa bà G và ông Peng Po C sau khi kết hôn, hai người chỉ chung sống được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, dẫn đến ly thân. Bà G và ông Peng Po C không còn liên lạc với nhau, mỗi người ở một quốc gia, không còn tình cảm để hàn gắn quan hệ hôn nhân. Do đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho bà G được ly hôn với ông P1 Po Cheng là phù hợp theo quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Bà G khai không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết, nếu có phát sinh tranh chấp sẽ tách thành vụ án khác khi có yêu cầu.
[4] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng và lệ phí ủy thác, chi phí thông báo tố tụng, nguyên đơn phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT!ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 153, khoản 2 Điều 227, khoản 6 Điều 477, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đặng Thị G.
- Về hôn nhân: Bà Đặng Thị G được ly hôn với ông Peng Po C.
- Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà G khai không có nên không xem xét giải quyết.
2. Án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Đặng Thị G phải chịu 300.000đ, nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm bà G đã nộp theo Biên lai thu số 0000281 ngày 22 tháng 3 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ, bà G đã nộp đủ tiền án phí.
3. Về chi phí tố tụng: Bà Đặng Thị G phải chịu 200.000 đồng lệ phí ủy thác tư pháp nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp 200.000 đồng theo Biên lai thu số 0000347 ngày 17/4/2024 của Cục thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ. Bà G còn phải chịu chi phí đăng thông báo tố tụng cho ông Peng Po C. Bà G đã nộp đủ chi phí tố tụng.
4. Về quyền kháng cáo: Bà Đặng Thị Giàu C1 quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết; Ông Peng Po C được quyền kháng cáo trong hạn 30 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt, thông báo hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật, để yêu cầu Tòa án nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm theo luật định./.
!!!!!!!!!!!!
!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM
!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!THẨM!PHÁN-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA
| Nơi nhận: ! - Đương sự; !!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!! - VKSND TPCT;! - Cục THADS TPCT; - UBND H. Thới Lai; - Lưu hồ sơ vụ án!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!! !!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! | !!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!Võ!Bảo!Anh!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!! |